Báo Công Giáo | Tin tức công giáo | Viettel Kon Tum

Những điểm mới của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

Đăng lúc: Thứ sáu - 29/12/2017 01:49 - Người đăng bài viết: thanhtu

Những điểm mới của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

18/07/2017

Ngày 18/6/2009, tại Kỳ họp thứ 05, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN), có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010. Đây là lần đầu tiên trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định trong một đạo luật. Luật TNBTCNN năm 2009 đã thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng được đề ra tại Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 cũng như phù hợp, đồng bộ với các đạo luật cơ bản vào thời điểm đó như Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996...
Sau hơn 06 năm thi hành, Luật TNBTCNN năm 2009 đã thực sự trở thành công cụ pháp lý quan trọng để cá nhân, tổ chức bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của mình, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng cũng như chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đến nay đã có nhiều thay đổi về yêu cầu bảo đảm, bảo vệ quyền con người, về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế cũng như sự phát triển của hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính trên đất nước ta. Thực tế đó đã làm cho Luật TNBTCNN năm 2009 hiện hành bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật này là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng những đòi hỏi của thực tế đối với các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sau đây gọi là Luật TNBTCNN năm 2017) đã chính thức được Quốc hội thông qua, với 92,46 % số phiếu tán thành. Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu lực từ 01/07/2018.
So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN (sửa đổi) có những điểm mới cơ bản sau đây:
I. KẾT CẤU, BỐ CỤC CỦA LUẬT TNBTCNN NĂM 2017
Luật TNBTCNN năm 2017 có 9 Chương và 78 Điều, cụ thể:
Chương I - Những quy định chung, gồm 16 Điều (từ Điều 1 đến Điều 16), quy định về: phạm vi điều chỉnh; đối tượng được bồi thường; giải thích từ ngữ; nguyên tắc bồi thường của Nhà nước; quyền yêu cầu bồi thường; thời hiệu yêu cầu bồi thường; căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu bồi thường; quyền và nghĩa vụ của người thi hành công vụ gây thiệt hại; trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường và các hành vi bị nghiêm cấm trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường.
Chương II - Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, gồm 5 Điều (từ Điều 17 đến Điều 21), quy định về: phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, hoạt động tố tụng hình sự, hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, hoạt động thi hành án hình sự và hoạt động thi hành án dân sự.
Chương III - Thiệt hại được bồi thường, gồm 11 Điều (từ Điều 22 đến Điều 32), quy định về: xác định thiệt hại; thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết; thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm; thiệt hại về tinh thần; các phí phí khác được bồi thường; khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác đối với người bị thiệt hại; trả lại tài sản; phục hồi danh dự và các thiệt hại Nhà nước không bồi thường.
Chương IV - Cơ quan giải quyết bồi thường, gồm 8 Điều (từ Điều 33 đến Điều 40), quy định về: cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, hoạt động tố tụng hình sự, hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, hoạt động thi hành án hình sự, hoạt động thi hành án dân sự và xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể.
Chương V - Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, gồm 19 Điều (từ Điều 41 đến Điều 59), quy định về: giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường; giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án; phục hồi danh dự.
Chương VI - Kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả, gồm 4 Điều (từ Điều 60 đến Điều 63), quy định về: kinh phí bồi thường; lập dự toán kinh phí bồi thường; cấp phát kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường; quyết toán kinh phí bồi thường.
Chương VII - Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, gồm 9 Điều (từ Điều 64 đến Điều 72), quy định về: nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ; xác định mức hoàn trả, giảm mức hoàn trả; thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả; quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả; thực hiện việc hoàn trả; xử lý tiền đã hoàn trả, trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường; trách nhiệm thu hồi tiền hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại chuyển sang cơ quan, tổ chức khác; trách nhiệm thu hồi tiền hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại đã nghỉ hưu, nghỉ việc; trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại chết
Chương VIII - Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước, gồm 3 Điều (từ Điều 73 đến Điều 75), quy định về: trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.
Chương IX – Điều khoản thi hành, gồm 3 Điều (từ Điều 76 đến Điều 78), quy định về: án phí, lệ phí, các loại phí khác và thuế trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường; hiệu lực thi hành; điều khoản chuyển tiếp.
II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT TNBTCNN NĂM 2017
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Giải thích từ ngữ 
Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung 04 thuật ngữ mới và sửa đổi 01 thuật ngữ, cụ thể:
(1) Thuật ngữ “người yêu cầu bồi thường” (khoản 3 Điều 3).
Việc Luật bổ sung thuật ngữ này là nhằm bảo đảm thống nhất cách thức sử dụng thuật ngữ trong các nội dung cụ thể của dự thảo Luật[1].
(2) Thuật ngữ “văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường” (khoản 5 Điều 3).
Việc Luật bổ sung thuật ngữ này thay thế cho hai thuật ngữ “văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ” và “văn bản xác định thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự” trong Luật TNBTCNN năm 2009 là nhằm thống nhất về nhận thức cũng như trong áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi yêu cầu bồi thường cũng như giải quyết yêu cầu bồi thường[2].
(3) Thuật ngữ “người giải quyết bồi thường” (khoản 6 Điều 3).
Việc Luật bổ sung thuật ngữ này là nhằm “xác định rõ một người cụ thể để tham mưu cho cơ quan giải quyết bồi thường thực hiện việc giải quyết yêu cầu bồi thường. Đồng thời, đây cũng là việc luật hóa quy định về “người đại diện thực hiện việc giải quyết bồi thường” mà Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TNBTCNN (Nghị định số 16) đã quy định[3].
(4) Thuật ngữ “cơ quan giải quyết bồi thường” (khoản 7 Điều 3).
Việc Luật sửa đổi thuật ngữ “cơ quan có trách nhiệm bồi thường” của Luật TNBTCNN năm 2009 thành “cơ quan giải quyết bồi thường” này nhằm thống nhất quan điểm trách nhiệm bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan giải quyết bồi thường chỉ là cơ quan đại diện Nhà nước thực hiện việc giải quyết bồi thường. Việc sửa đổi thuật ngữ như trên cũng là phù hợp với quy định về các cơ chế giải quyết bồi thường quy định tại Điều 4 của Luật.
(5)  Thuật ngữ “hoàn trả” (khoản 8 Điều 3).
Việc Luật bổ sung thuật ngữ này là nhằm làm rõ trách nhiệm của người thi hành công vụ gây thiệt hại trong việc hoàn trả lại cho Nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã chi trả cho người bị thiệt hại[4].
1.2. Quyền yêu cầu bồi thường
Ngoài người bị thiệt hại, Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung các chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường sau đây:
(1) Những người đương nhiên có quyền yêu cầu bồi thường, bao gồm:
- Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết (khoản 2 Điều 5);
- Tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại (khoản 2 Điều 5);
- Người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 3 Điều 5);
(2) Những người có quyền yêu cầu bồi thường theo ủy quyền là cá nhân, pháp nhân được những người đương nhiên có quyền yêu cầu bồi thường ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường (khoản 4 Điều 5).
1.3. Thời hiệu yêu cầu bồi thường
Luật TNBTCNN năm 2017 sửa đổi toàn diện quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường như sau:
(1) Tăng thời hiệu yêu cầu bồi thường từ 2 năm lên 3 năm (khoản 1 Điều 6).
Việc Luật tăng thời hiệu yêu cầu bồi thường là để bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 588 BLDS năm 2015 về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường.
(2) Bổ sung quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (khoản 2 Điều 6).
Việc Luật bổ sung quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là để phù hợp với quy định về các cơ chế giải quyết bồi thường tại Điều 4 của Luật, trong đó có cơ chế giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.
(3) Bổ sung quy định về thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường (khoản 3 Điều 6) và nghĩa vụ chứng minh của người yêu cầu bồi thường đối với khoảng thời gian không tính vào thời hiệu (khoản 4 Điều 6).
Quy định này được bổ sung là bởi Luật TNBTCNN 2009 không có quy định về các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu. Điều này là chưa phù hợp với BLDS năm 2005. Chính vì vậy, ở một số Thông tư liên tịch hướng dẫn Luật TNBTCNN đã có hướng dẫn về các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Tại lần sửa đổi này, Luật đã kế thừa các quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TNBTCNN 2009 về các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường. Quy định này cũng  phù hợp với quy định của BLDS năm 2015[5].
1.4. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như sau:
(1) Bổ sung quy định rõ căn cứ “mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại” (điểm c khoản 1 Điều 7).
Việc Luật bổ sung quy định này là nhằm làm rõ hơn các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
(2) Sửa đổi toàn diện quy định về căn cứ “Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại các điều 13, 28, 38 và 39 của Luật này” tại điểm a khoản 1 Điều 6 Luật TNBTCNN năm 2009 và căn cứ “Có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này” tại điểm a khoản 2 Điều 6 Luật TNBTCNN năm 2009 thành “Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng quy định tại khoản 2 Điều này” (điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 7 Luật TNBTCNN năm 2017).
Việc Luật sửa đổi toàn diện căn cứ này là nhằm quy định rõ các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật tương ứng với các cơ chế giải quyết bồi thường đã được quy định tại Điều 4 về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước.
2. BỔ SUNG QUY ĐỊNH VỀ NGUYÊN TẮC BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC (ĐIỀU 4)
Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung một Điều mới quy định về vấn đề nguyên tắc bồi thường của Nhà nước, trong đó, quy định những vấn đề có tính chất xuyên suốt trong nội dung của Luật. Cụ thể, nguyên tắc bồi thường của Nhà nước xác định rõ các vấn đề sau đây:
(1) Về khuôn khổ pháp lý điều chỉnh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (khoản 1 Điều 4).
Luật TNBTCNN năm 2017 quy định rõ việc bồi thường của Nhà nước chỉ được thực hiện theo quy định của Luật TNBTCNN.
Quy định này nhằm quy định rõ khuôn khổ pháp lý điều chỉnh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, theo đó, TNBTCNN được điều chỉnh bằng một khuôn khổ pháp lý riêng là Luật TNBTCNN mà không theo bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào khác. Quy định này cũng là phù hợp với quy định tại Điều 598 BLDS năm 2015, theo đó, quy định dẫn chiếu áp dụng Luật TNBTCNN đối với việc giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra.
(2) Về yêu cầu đối với việc giải quyết bồi thường (khoản 2 Điều 4).
Dưới góc độ coi quan hệ pháp luật về TNBTCNN là một quan hệ đặc thù về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do đó, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định những yêu cầu đối với việc giải quyết bồi thường là phải bảo đảm tính “kịp thời, công khai, bình đẳng, thiện chí, trung thực, đúng pháp luật”, cũng như phải bảo đảm sự thương lượng trong quá trình giải quyết bồi thường.
(3) Về các cơ chế giải quyết bồi thường (khoản 3 và khoản 4 Điều 4).
Luật TNBTCNN năm 2017 đã xác định rõ các cơ chế giải quyết bồi thường, bao gồm:
- Sau khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự;
- Việc giải quyết yêu cầu bồi thường có thể được thực hiện kết hợp trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính;
- Người bị thiệt hại có quyền lựa chọn cơ chế giải quyết yêu cầu bồi thường thông qua quyền yêu cầu một trong các cơ quan giải quyết bồi thường thực hiện giải quyết yêu cầu bồi thường, và, khi đã lựa chọn một cơ quan thì không có quyền lựa chọn cơ quan có thẩm quyền khác giải quyết yêu cầu bồi thường;
- Riêng đối với yêu cầu bồi thường trong lĩnh vực tố tụng hình sự, thì yêu cầu bồi thường trong lĩnh vực này sẽ được giải quyết theo một cơ chế riêng, theo đó, việc giải quyết bồi thường được thực hiện tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại trước khi có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự.
Việc quy định đặc thù về cơ chế giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự là bởi, trong quá trình thảo luận cho ý kiến về dự thảo Luật TNBTCNN (sửa đổi) tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV thì có ý kiến đề nghị không quy định việc kết hợp giải quyết bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự tại Tòa án cũng như không quy định việc khởi kiện trực tiếp ra Tòa án sau khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đối với các trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự để gắn trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự với sai phạm và thiệt hại do người tiến hành tố tụng thuộc thẩm quyền quản lý của mình gây ra. Ý kiến này đã được tiếp thu trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật.
(4) Về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại (khoản 5 Điều 4).
Luật TNBTCNN quy định trường hợp người bị thiệt hại có một phần lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì Nhà nước chỉ bồi thường phần thiệt hại sau khi trừ đi phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người bị thiệt hại. Quy định này là phù hợp với quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại của BLDS năm 2015.
3. MỞ RỘNG PHẠM VI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
Trong Luật TNBTCNN năm 2017, trong từng lĩnh vực hoạt động của Nhà nước thì phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được mở rộng như sau:
3.1. Trong hoạt động quản lý hành chính
Trong lĩnh vực quản lý hành chính, so với quy định tại Điều 13 Luật TNBTCNN năm 2009, tại Điều 17 Luật TNBTCNN năm 2017 có các trường hợp được bổ sung sau đây:
(1) Đối với trường hợp được bồi thường do bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính, bổ sung thêm 02 biện pháp: (1) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm (Điểm b khoản 3 Điều 17); (2) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng (Điểm c khoản 3 Điều 17).
02 biện pháp mới được Luật bổ sung là nhằm bảo đảm phù hợp với Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đồng thời tăng cường tính minh bạch, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
(2) Đối với trường hợp được bồi thường do bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bổ sung 01 biện pháp: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điểm a khoản 5 Điều 17).
Biện pháp mới được Luật bổ sung là nhằm phù hợp với Điều 89 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
(3) Bổ sung trường hợp được bồi thường “Không áp dụng hoặc áp dụng không đúng quy định của Luật tố cáo các biện pháp bảo vệ người tố cáo khi người đó yêu cầu” (khoản 6 Điều 17).
Việc Luật bổ sung quy định này là để bảo đảm phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 35 của Luật Tố cáo năm 2011 (được kế thừa trong dự thảo Luật Tố cáo trình xin ý kiến Quốc hội tại kỳ họp thứ 3), đồng thời quy định cụ thể hơn từng trường hợp được bồi thường để bảo đảm tính khả thi[6].
(4) Bổ sung trường hợp được bồi thường do “Thực hiện hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin về cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin” (khoản 7 Điều 17). Việc bổ sung quy định này là để bảo đảm thống nhất với khoản 2 Điều 15 của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; đồng thời, giới hạn chỉ bồi thường trong một trường hợp cụ thể gắn với lỗi cố ý của người thi hành công vụ[7].
(5) Bổ sung trường hợp được bồi thường do “hoàn thuế” trái pháp luật vào lĩnh vực thuế vào khoản 9 Điều 17.
(6) Bổ sung trường hợp được bồi thường do “Ra quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống” (khoản 14 Điều 17).
Việc bổ sung quy định này là bởi, Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố tụng hành chính năm 2010 (nay là Luật Tố tụng hành chính năm 2015) đã mở rộng phạm vi khiếu nại và phạm vi khởi kiện vụ án hành chính, trong đó, bao gồm cả “quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật” (Khoản 2 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015)[8].
3.2. Trong hoạt động tố tụng hình sự
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, so với quy định tại Điều 26 Luật TNBTCNN năm 2009, tại Điều 18 Luật TNBTCNN năm 2017 có 02 trường hợp được bổ sung mới là:
(1) Bổ sung trường hợp “Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật” (khoản 1 Điều 18).
Việc Luật bổ sung trường hợp này là nhằm bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 31 BLTTHS năm 2015: “người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra” (khoản 1 Điều 31 BLTTHS năm 2015)[9], đồng thời, bảo đảm cụ thể và chặt chẽ hơn, bảo đảm tính khả thi, đồng thời bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan bảo vệ pháp luật[10].
(2) Bổ sung trường hợp “Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm hoặc hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được pháp nhân đã thực hiện tội phạm và pháp nhân đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật” (khoản 9 Điều 18).
Việc Luật bổ sung trường hợp này là bởi theo quy định của BLHS năm 2015 thì “pháp nhân thương mại” được bổ sung là một chủ thể của tội phạm. Chính vì vậy, nếu pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy trố, xét xử, thi hành án trái pháp luật thì sẽ được bồi thường[11].
3.3. Trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính
Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tại Điều 19 Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi quy định tại khoản 4 Điều 28 Luật TNBTCNN năm 2009 - “Ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án” - theo hướng: (1) Bỏ lỗi cố ý và (2) tách thành 02 khoản để quy định rõ ràng hơn, cụ thể:
(1) Quy định cụ thể trường hợp bồi thường “Ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cơ quan có thẩm quyền kết luận là trái pháp luật mà người ra bản án, quyết định đó bị xử lý kỷ luật, xử lý trách nhiệm hình sự” (khoản 5 Điều 19).
(2) Cụ thể hóa nội dung làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc bằng các hành vi cụ thể: “Thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng các tài liệu, chứng cứ hoặc bằng các hành vi khác làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc dẫn đến việc ban hành bản án, quyết định trái pháp luật” (khoản 6 Điều 19).
Việc sửa đổi quy định tại khoản 4 Điều 28 Luật TNBTCNN năm 2009 thành các khoản 5 và 6 Điều 19 Luật TNBTCNN năm 2017 như trên là phù hợp với quy định của BLTTDS năm 2015, Luật TTHC năm 2015 và làm rõ hơn căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người đã ra bản án, quyết định. Quy định như vậy cũng bảo đảm chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn hoạt động của Tòa án[12].
3.4. Trong hoạt động thi hành án hình sự
Trong lĩnh vực thi hành án hình sự, Điều 20 Luật TNBTCNN năm 2017 kế thừa các quy định về phạm vi TNBTCNN trong hoạt động thi hành án hình sự đã được quy định tại Điều 39 Luật TNBTCNN 2009 và Thông tư liên tịch (TTLT) số 11/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 06/11/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự. Đồng thời, Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung thêm 01 trường hợp được bồi thường là: “Không thực hiện quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù”. Việc bổ sung trường hợp được bồi thường nêu trên là để phù hợp với quy định của Luật THAHS năm 2010[13].
3.5. Trong hoạt động thi hành án dân sự
Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Điều 21 Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi quy định tại Điều 38 Luật TNBTCNN năm theo hướng bỏ lỗi cố ý đối với trường hợp “không ra các quyết định về thi hành án” và trường hợp “không tổ chức thi hành án các quyết định về thi hành án”. Việc bỏ lỗi cố ý như trên là bởi quy định của BLDS năm 2015 về các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có sự thay đổi về yếu tố lỗi của người gây ra thiệt hại, cụ thể là, BLDS năm 2005 quy định lỗi là một yếu tố bắt buộc (khoản 1 Điều 604 - “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm…”.), trong khi đó, BLDS năm 2015 không quy định lỗi là một yếu tố bắt buộc (khoản 1 Điều 584 - “Người nào có hành vi xâm phạm…”.). Như vậy, quy định nêu trên của BLDS năm 2015 đã đặt ra yêu cầu đối với Luật TNBTCNN là cần phải sửa đổi quy định về căn cứ xác định TNBTCNN, theo đó, lỗi không còn được coi là một yếu tố bắt buộc trong mọi trường hợp[14].
4. QUY ĐỊNH CỤ THỂ HƠN VĂN BẢN LÀM CĂN CỨ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG
Quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 đã kế thừa các quy định về “văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ” và “văn bản xác định thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự” của Luật TNBTCNN năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng:
(1) Sử dụng thuật ngữ “văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường” thay thế cho hai thuật ngữ “văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ” và “văn bản xác định thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự” như đã nêu trên.
(2) Quy định cụ thể về văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong từng lĩnh vực hoạt động thuộc phạm vi TNBTCNN (các Điều từ Điều 8 đến Điều 12).
Thực chất quy định thuật ngữ “văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường” là “các quy định được luật hóa từ các Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn Luật TNBTCNN 2009 đã được thi hành ổn định trên thực tiễn; thứ hai, quy định về văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường còn được xây dựng trên cơ sở rà soát, đối chiếu với quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tố tụng, thi hành án và xử lý kỷ luật công chức hiện hành đang có hiệu lực (như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014...)”[15].
5. BỔ SUNG NHIỀU LOẠI THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG, TĂNG MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TINH THẦN, LƯỢNG HÓA MỘT SỐ LOẠI THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG
So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định về thiệt hại được bồi thường, cụ thể:
(1) Bổ sung 01 điều về việc xác định thiệt hại (Điều 22), trong đó, quy định những nguyên tắc chung trong việc xác định thiệt hại được bồi thường.
(2) Bổ sung quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 23) theo hướng:
- Bổ sung thiệt hại được bồi thường là khoản tiền phạt theo thỏa thuận trong giao dịch dân sự, kinh tế do không thực hiện được các giao dịch dân sự, kinh tế (khoản 5 Điều 23);
- Bổ sung căn cứ tính lãi đối với thiệt hại là các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước (khoản 4 Điều 23) và thiệt hại là khoản tiền phạt theo thỏa thuận trong giao dịch dân sự, kinh tế do không thực hiện được các giao dịch dân sự, kinh tế (khoản 5 Điều 23);
- Bổ sung quy định về thiệt hại được bồi thường là phần thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (khoản 6 Điều 23);
(3) Sửa đổi quy định về thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (Điều 24), thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết (Điều 25) và thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 26) theo hướng: quy định cụ thể hơn và lượng hóa một số thiệt hại được bồi thường[16].
(4) Sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về thiệt hại về tinh thần (Điều 27) theo hướng:
- Bổ sung quy định về thiệt hại về tinh thần trong trường hợp áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn (khoản 1 Điều 27) và trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật (khoản 6 Điều 27). Việc bổ sung quy định này là để phù hợp với việc quy định bổ sung các trường hợp này vào phạm vi TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính[17];
- Bổ sung quy định về thiệt hại về tinh thần đối với trường hợp “giữ người trong trường hợp khẩn cấp”; tăng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần đối với các trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự; tách trường hợp thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại đã chấp hành xong hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án mà sau đó mới có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự để quy định cho rõ ràng hơn (khoản 3 Điều 27);
- Tăng mức bồi thường đối với trường hợp thiệt hại về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm (khoản 5 Điều 27). Việc tăng mức bồi thường cao hơn so với trước đây để “bảo đảm phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”[18].
(5) Bổ sung quy định về thiệt hại là chi phí khác được bồi thường (Điều 28).
Quy định này được bổ sung là xuất phát từ thực tiễn, theo đó, trong hơn 06 năm qua, trong nhiều vụ việc người bị thiệt hại đã yêu cầu bồi thường thiệt hại là các chi phí ăn, ở, đi lại, in ấn tài liệu trong quá trình khiếu nại, tố cáo... để có được quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo...Tuy nhiên, thiệt hại này của họ không được bồi thường do chưa được Luật TNBTCNN 2009 quy định là một loại thiệt hại được bồi thường. Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BQP-BTP-BTC-BNN&PTNT hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự đã có quy định chi phí ăn ở, đi lại ... của người bị thiệt hại là một loại thiệt hại được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự. Thực tiễn thi hành quy định này của Thông tư liên tịch số 05 đã ổn định và không có vướng mắc, bất cập. Chính vì vậy, Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung quy định về chi phí hợp lý khác được bồi thường như đã nêu trên[19].
(6) Sửa đổi quy định về khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác đối với người bị thiệt hại (Điều 29).
Điều 29 Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện quy định tại khoản 7 Điều 8[20] và điểm đ khoản 1 Điều 9[21] của Luật TNBTCNN năm 2009 theo hướng quy định chi tiết các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại được Nhà nước khôi phục.
(7) Sửa đổi quy định về trả lại tài sản (Điều 30) theo hướng dẫn chiếu áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về thi hành án dân sự, pháp luật về tố tụng và pháp luật khác có liên quan mà không quy định trực tiếp như Điều 50 Luật TNBTCNN năm 2009 và Điều 11 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP.
(8) Sửa đổi quy định về phục hồi danh dự (Điều 31) theo hướng bổ sung đối tượng được phục hồi danh dự. Cụ thể, ngoài cá nhân bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, đối tượng được phục hồi danh dự được Điều 31 bổ sung gồm: (i) công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật; (ii) người bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trái pháp luật.
(9) Sửa đổi quy định về các thiệt hại Nhà nước không bồi thường (Điều 32).
So với Luật TNBTCNN 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi các quy định về thiệt hại Nhà nước không bồi thường theo hướng: (i) quy định một Điều mới và Điều luật này; (ii) “gom” các quy định về các thiệt hại Nhà nước không bồi thường tại nhiều Điều khác nhau của Luật TNBTCNN 2009 (khoản 3 Điều 6 và Điều 27), quy định về các thiệt hại Nhà nước không bồi thường tại các văn bản hướng dẫn thi hành (điểm b khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 07/12/2015 của Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự) vào một Điều; (iii) bổ sung các nội dung liên quan đến quy định về việc Nhà nước không bồi thường đã được quy định của Luật THADS năm 2008 (Điều 66) và BLTTDS năm 2015 (Điều 113).
(10) Tách bạch cách sử dụng 02 căn cứ là “lương cơ sở” và “lương tối thiểu vùng” cho phù hợp hơn. Theo đó, đối với những thiệt hại về vật chất thì Luật quy định theo căn cứ là “lương tối thiểu vùng” cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội tại từng vùng, miền; đối với những thiệt hại về tinh thần thì do không có sự phân biệt mức độ tổn hại về tinh thần nên Luật quy định áp dụng căn cứ chung là “lương cơ sở”.
6. SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TOÀN DIỆN QUY ĐỊNH VỀ CƠ QUAN GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG
Luật TNBTCNN năm 2017 quy định cơ quan giải quyết bồi thường tại Chương III (từ Điều 33 đến Điều 40), theo đó, đã sửa đổi, bổ sung toàn diện các Điều 14, 29, 30, 31, 32, 33 và 40 của Luật TNBTCNN năm 2009 theo hướng:
(1) Quy định về cơ quan giải quyết bồi thường trong các hoạt động quản lý hành chính (Điều 33), tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (Điều 37), thi hành án hình sự (Điều 38) và thi hành án dân sự (Điều 39) theo hướng: (i) quy định rõ hơn các trường hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại là cơ quan giải quyết bồi thường trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật năm 2009 cũng như các quy định còn phù hợp về cơ quan giải quyết bồi thường tại Nghị định số 16/2010/NĐ-CP, các Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; (ii) bổ sung quy định về cơ quan giải quyết bồi thường là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự, dân sự và hành chính cho phù hợp với quy định về cơ chế giải quyết bồi thường tại Điều 4 về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước.
(2) Quy định cụ thể hơn về cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ là cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự (các Điều 34, 35 và 36).
Riêng đối với quy định về cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp Viện Kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung (trong trường hợp vụ án chưa đến giai đoạn Viện kiểm sát hoàn thành cáo trạng để truy tố) mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì Điều 34 và Điều 35 đã có quy định để phân rõ trường hợp nào thì thuộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trường hợp nào thì thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát, cụ thể:
- Trường hợp Viện Kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra bổ sung hoặc kết luận điều tra mới đề nghị truy tố nhưng Viện Kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm thì trách nhiệm giải quyết bồi thường thuộc Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 3 Điều 34);
- Trường hợp Viện kiểm sát đã quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng căn cứ kết quả điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì trách nhiệm giải quyết bồi thường thuộc Viện kiểm sát (khoản 2 Điều 35).
(3) Sửa đổi, bổ sung quy định về xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể (Điều 40) theo hướng: (1) bổ sung quy định về thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường bị giải thể mà cơ quan đã ra quyết định giải thể là Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và trường hợp không có sự thống nhất về cơ quan giải quyết bồi thường (điểm a và điểm b khoản 1); (2) bổ sung quy định trường hợp người yêu cầu bồi thường đồng thời yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thì cơ quan đã thụ lý yêu cầu bồi thường trước là cơ quan giải quyết bồi thường (khoản 3).
7. SỬA ĐỔI TOÀN DIỆN QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG
So với Luật TNBTCNN năm 2009, Chương V Luật TNBTCNN năm 2017 quy định rất cụ thể về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, cụ thể:
7.1. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại
Mục 1 Chương V của Luật TNBTCNN năm 2017 sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ theo hướng:
(1) Rút ngắn thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường từ 95 ngày - 125 ngày xuống còn từ 41 ngày - 71 ngày.
(2) Sửa đổi toàn diện quy định về hồ sơ yêu cầu bồi thường (Điều 41) theo hướng: (i) quy định rõ hồ sơ trong trường hợp người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu bồi thường (khoản 1), hồ sơ yêu cầu bồi thường người yêu cầu bồi thường là người thừa kế hoặc là người đại diện của người bị thiệt hại (khoản 2); (ii) bổ sung quy định về cách thức gửi hồ sơ và giấy tờ, tài liệu gửi kèm tương ứng với từng cách thức gửi hồ sơ (khoản 4 và 5); (iii) bổ sung quy định về việc gửi hồ sơ tới Sở Tư pháp có thẩm quyền trong trường hợp người yêu cầu bồi thường chưa xác định được ngay cơ quan giải quyết bồi thường và trách nhiệm của Sở Tư pháp (khoản 4).
(3) Bổ sung 01 Điều mới quy định về tiếp nhận và xử lý hồ sơ yêu cầu bồi thường (Điều 42), trong đó quy định rõ trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường khi nhận được hồ sơ và những việc cần làm.
(4) Sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường và bổ sung quy định về cử người giải quyết bồi thường (Điều 43), trong đó quy định rõ trách nhiệm thụ lý hồ sơ, các trường hợp không thụ lý hồ sơ, việc cử người giải quyết bồi thường.
(5) Bổ sung 01 Điều mới quy định về tạm ứng kinh phí bồi thường (Điều 44), trong đó quy định rõ các loại thiệt hại mà người yêu cầu bồi thường có quyền đề nghị tạm ứng, trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan tài chính có thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc tạm ứng và mức tạm ứng (tối thiểu là 50% giá trị các thiệt hại).
(6) Sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về xác minh thiệt hại (Điều 45) theo hướng: (i) rút ngắn thời hạn xác minh thiệt hại so với Luật TNBTCNN năm 2009; (ii) bổ sung quy định về thỏa thuận kéo dài thời hạn xác minh thiệt hại giữa người yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường (khoản 2); (iii) bổ sung quy định về báo cáo xác minh thiệt hại để làm căn cứ thương lượng việc bồi thường (khoản 3); (iv) bổ sung quy định về việc tham gia xác minh thiệt hại của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và cơ quan tài chính có thẩm quyền khi có đề nghị của cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp vụ việc phức tạp (khoản 4).
(7) Sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về thương lượng việc bồi thường (Điều 46), trong đó: (i) rút ngắn thời hạn thương lượng việc bồi thường so với Luật TNBTCNN năm 2009; (ii) bổ sung quy định về thỏa thuận kéo dài thời hạn thương lượng giữa người yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường (khoản 1); (iii) bổ sung quy định về nguyên tắc thương lượng (khoản 2); (iv) sửa đổi quy định về thành phần thương lượng, trong đó, bổ sung thành phần thương lượng bắt buộc là đại diện cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền; đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, thành phần thương lượng bắt buộc là Viện kiểm sát có thẩm quyền; trường hợp cần thiết thì có thể mời cơ quan tài chính cùng cấp tham gia (khoản 3); (v) bổ sung quy định về nội dung thương lượng (khoản 5); (vi) bổ sung quy định về các bước tiến hành thương lượng (khoản 6); (vii) bổ sung quy định về biên bản kết quả thương lượng để làm căn cứ thực hiện việc ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc là căn cứ để người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án (khoản 7, 8).
(8) Sửa đổi toàn diện quy định về Quyết định giải quyết bồi thường (Điều 47), trong đó: (i) việc ra quyết định giải quyết bồi thường phải được thực hiện ngay sau khi có biên bản kết quả thương lượng thành và quyết định phải được trao tại buổi thương lượng (khoản 1); (ii) bổ sung quy định về hậu quả pháp lý của việc người yêu cầu bồi thường không nhận quyết định giải quyết bồi thường (khoản 1).
(9) Bổ sung 04 Điều mới quy định về: hủy, sửa chữa, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường (Điều 48), hoãn giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 49), tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 50) và đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 51) và hậu quả pháp lý của các trường hợp nêu trên. Việc bổ sung các quy định nêu trên là bởi trên thực tiễn đã phát sinh nhiều trường hợp mà việc giải quyết yêu cầu bồi thường chưa bảo đảm đúng trình tự, thủ tục hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật nhưng Luật TNBTCNN 2009 lại chưa có quy định về việc xử lý hậu quả pháp lý của việc ban hành Quyết định giải quyết bồi thường trái pháp luật. Thứ hai, trong không ít vụ việc, xuất phát từ yêu cầu của người bị thiệt hại về việc tạm dừng việc giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc do người bị thiệt hại có thái độ bất hợp tác trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc vì lý do khác mà việc giải quyết yêu cầu bồi thường buộc phải tạm dừng hay có đủ căn cứ để chấm dứt. Tuy nhiên, Luật TNBTCNN 2009 cũng chưa có quy định về việc hoãn, tạm đình chỉ hay đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường. Điều này khiến cho nhiều vụ việc bị bế tắc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường không thể tiếp tục giải quyết bồi thường mà cũng không thể chấm dứt việc giải quyết yêu cầu bồi thường[22].
7.2. Thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự
(1) Sửa đổi toàn diện các quy định về khởi kiện và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án (Điều 52), cụ thể:
- Người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện trong 05 trường hợp: (i) Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường khởi kiện ngay ra Tòa án (điểm a khoản 1); (ii) Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường đã yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường, nhưng sau đó người đó rút đơn trước thời điểm cơ quan này tiến hành xác minh thiệt hại (điểm b khoản 1); (iii) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường (khoản 2); (iv) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng thành giữa cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại với người yêu cầu bồi thường mà cơ quan đó không ra quyết định giải quyết bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường (khoản 2); (v) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng không thành giữa cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại với người yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường (khoản 2);
- Bổ sung quy định về các trường hợp không tính vào thời hạn khởi kiện (khoản 3).
(2) Sửa đổi quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án (Điều 53), trong đó xác định thẩm quyền tương tự như thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ án hành chính mà Luật TTHC năm 2015 quy định.
(3) Bổ sung 01 Điều mới quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 54). So với Luật TNBTCNN năm 2009, quy định tại Điều 54 Luật TNBTCNN năm 2017 đã bỏ quy định về yêu cầu thi hành án dân sự đối với bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường tại khoản 5 Điều 54 của Luật năm 2009[23]. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường cho người yêu cầu bồi thường theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có liên quan phải thực hiện việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác cho người bị thiệt hại theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường.
7.3. Thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính
Luật TNBTCNN đã bổ sung 01 Điều mới quy định về giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính tại Tòa án (Điều 55). Việc bổ sung quy định nêu trên là bởi trong quá trình cho ý kiến về dự thảo Luật TNBTCNN (sửa đổi), đa số ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị cần kế thừa nguyên tắc bồi thường như quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành và các luật có liên quan, theo đó bên cạnh cơ chế giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thì được kết hợp giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết khiếu nại, trong quá trình tố tụng hành chính, tố tụng hình sự[24]; và ý kiến này đã được tiếp thu trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật.
Điều 55 Luật TNBTCNN quy định việc giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính theo hướng:
(1) Dẫn chiếu áp dụng pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính khi giải quyết yêu cầu bồi thường (khoản 1);
(2) Đối với việc xác định thiệt hại thì phải thực hiện theo quy định của Luật TNBTCNN và chỉ được thực hiện sau khi Tòa án có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi TNBTCNN (khoản 2);
(3) Nếu Tòa án đồng thời giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính mà không tách thành vụ án riêng để thì bản án, quyết định của Tòa án còn phải có các nội dung: (i) hành vi gây thiệt hại thuộc phạm vi TNBTCNN; (ii) thiệt hại, mức bồi thường, phục hồi danh dự (nếu có) và việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có); (iii) cơ quan có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường, thực hiện phục hồi danh dự (nếu có) và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có).
(4) Đối với việc lựa chọn cơ chế giải quyết bồi thường, để phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 4 về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường không đồng ý với nội dung giải quyết bồi thường trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc bản án, quyết định của Tòa án không có nội dung giải quyết bồi thường thì chỉ được tiếp tục thực hiện quyền yêu cầu bồi thường theo thủ tục tố tụng (khoản 4).
7.4. Phục hồi danh dự
Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện quy định về khôi phục danh dự tại Điều 51 Luật TNBTCNN năm 2009, cụ thể:
(1) Sửa đổi, bổ sung quy định về hình thức phục hồi danh dự (Điều 56), trong đó, quy định rõ các hình thức phục hồi danh dự tương ứng với từng đối tượng được bồi thường, cụ thể: (i) đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, các hình thức phục hồi danh dự bao gồm: Trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai và Đăng báo xin lỗi và cải chính công khai (khoản 1 Điều 56); (ii) đối với người bị thiệt hại là cá nhân trong trường hợp bị buộc thôi việc trái pháp luật, bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì được phục hồi danh dự bằng hình thức đăng báo xin lỗi và cải chính công khai (khoản 2 Điều 56).
(2) Bổ sung 01 Điều mới quy định về chủ động phục hồi danh dự (Điều 57).
Việc bổ sung quy định này là bởi trong quá trình thảo luận cho ý kiến về dự thảo Luật TNBTCNN (sửa đổi), một số ý kiến đại biểu Quốc hội đã đề nghị quy định cơ quan nhà nước có trách nhiệm chủ động tổ chức xin lỗi công khai người bị oan và phục hồi danh dự cho họ, trừ trường hợp người bị oan đề nghị không tổ chức xin lỗi công khai[25]. Ý kiến này đã được tiếp thu trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện Luật.
(3) Bổ sung 01 Điều mới quy định về trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai (Điều 58), trong đó, quy định về trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại trong việc tổ chức trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai và thành phần tham dự.
(4) Bổ sung 01 Điều mới quy định về đăng báo xin lỗi và cải chính công khai (Điều 59), trong đó, quy định về trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại trong việc đăng báo xin lỗi và cải chính công khai.
Đặc biệt, so với quy định tại Điều 51 Luật TNBTCNN năm 2009 thì Điều 59 Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung hình thức đăng trên cổng thông tin điện tử của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại (nếu có) và việc niêm yết công khai tờ báo đăng xin lỗi, cải chính công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại.
8. KINH PHÍ BỒI THƯỜNG VÀ THỦ TỤC CHI TRẢ
Chương VI Luật TNBTCNN sửa đổi toàn diện các quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả, trong đó, tập trung vào các điểm chính sau đây:
(1) Sửa đổi toàn diện quy định về trách nhiệm lập dự toán (Điều 61), quyết toán kinh phí bồi thường (Điều 63), theo đó, trách nhiệm lập dự toán kinh phí bồi thường là thuộc Bộ Tài chính và Sở Tài chính.
Việc Luật sửa đổi như vậy là bởi điểm thuận lợi là thống nhất đầu mối lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường ở trung ương và cấp tỉnh, tránh tình trạng tất cả các cơ quan đều phải lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường, trong khi bồi thường nhà nước không phải là công việc thường xuyên, chỉ phát sinh khi có vụ việc cụ thể. Mặt khác, hàng năm, căn cứ vào thực tế cấp phát kinh phí bồi thường của năm trước thì cơ quan tài chính có cơ sở và thuận lợi hơn trong việc lập dự toán  kinh phí bồi thường[26].
(2) Sửa đổi, bổ sung quy định về cấp phát kinh phí và chi trả tiền bồi thường (Điều 62) theo hướng:
- Bỏ quy định về kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường của cơ quan tài chính có thẩm quyền và của cơ quan chủ quản (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại tại Điều 54 Luật TNBTCNN năm 2009;
Việc bỏ quy định này là bởi, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tài chính có thẩm quyền phải tham gia quá trình giải quyết bồi thường ngay từ giai đoạn xác minh thiệt hại nếu có đề nghị (Điều 45) và giai đoạn thương lượng việc bồi thường (Điều 46) để bảo đảm tính chặt chẽ, đúng pháp luật của quá trình giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ.
- Quy định chặt chẽ hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường tương ứng với các cơ chế giải quyết bồi thường;
- Bổ sung quyền hạn của cơ quan tài chính có thẩm quyền nếu không đồng ý với mức bồi thường hoặc nếu cho rằng hồ sơ không đáp ứng yêu cầu, cụ thể: (i) Trường hợp có căn cứ rõ ràng cho rằng hồ sơ không đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này hoặc mức bồi thường không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan tài chính có trách nhiệm phối hợp với cơ quan giải quyết bồi thường để hoàn thiện hồ sơ, cấp phát kinh phí bồi thường trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường (khoản 4); (ii) Trường hợp có căn cứ rõ ràng cho rằng mức bồi thường trong bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 52 hoặc tại Điều 55 của Luật này không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan tài chính kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng (khoản 4);
- Bổ sung quy định về sung quỹ nhà nước nếu người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường trong thời hạn luật định (khoản 6).
9. QUY ĐỊNH TĂNG MỨC TRÁCH NHIỆM HOÀN TRẢ CỦA NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ, THỐNG NHẤT QUY ĐỊNH VỀ LỖI ĐỂ XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HOÀN TRẢ TRONG MỌI LĨNH VỰC VÀ BỔ SUNG QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HOÀN TRẢ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
So với Luật TNBTCNN năm 2009, Chương VII Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, cụ thể:
(1) Sửa đổi quy định về nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ (Điều 64) theo hướng bỏ quy định về nghĩa vụ liên đới hoàn trả trong trường hợp có nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại.
(2) Sửa đổi quy định về xác định mức hoàn trả (Điều 65) theo hướng bỏ quy định về căn cứ xác định mức hoàn trả là “điều kiện kinh tế của người thi hành công vụ”.
(3) Quy định tách bạch 02 trường hợp hoàn trả: (i) trường hợp có 01 người thi hành công vụ gây thiệt hại (khoản 2 Điều 65); (ii) trường hợp có nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại (khoản 3 Điều 65).
(4) Sửa đổi quy định về mức hoàn trả theo hướng tăng mức hoàn trả của người thi hành công vụ (khoản 2 Điều 65), cụ thể: (i) người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại mà có bản án đã có hiệu lực pháp luật tuyên người đó phạm tội thì phải hoàn trả toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại (điểm a khoản 2); (ii) người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức hoàn trả từ 30 đến 50 tháng lương của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả nhưng tối đa là 50% số tiền mà Nhà nước đã bồi thường (điểm b khoản 2); (iii) người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây thiệt hại thì mức hoàn trả từ 03 đến 05 tháng lương của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả nhưng tối đa là 50% số tiền mà Nhà nước đã bồi thường (điểm c khoản 2); (iv) trường hợp 50% số tiền Nhà nước đã bồi thường thấp hơn 30 tháng lương quy định tại điểm b khoản này hoặc thấp hơn 03 tháng lương quy định tại điểm c khoản này thì số tiền người thi hành công vụ phải hoàn trả bằng 50% số tiền Nhà nước đã bồi thường (điểm d khoản 2).
(5) Bổ sung quy định về giảm mức hoàn trả (khoản 4 Điều 65), theo đó,  Người thi hành công vụ được giảm mức hoàn trả khi có đủ các điều kiện: chủ động khắc phục hậu quả; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và đã hoàn trả được ít nhất 50% số tiền phải hoàn trả và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Việc giảm mức hoàn trả do Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định và mức giảm tối đa là 30% trên tổng số tiền phải hoàn trả.
(6) Sửa đổi quy định về thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả (Điều 66) theo hướng tách bạch 02 trường hợp: (i) đối với trường hợp Nhà nước phải bồi thường đối với thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án hành chính thì Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường ra quyết định hoàn trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại (điểm a khoản 3 Điều 66); (ii) đối với trường hợp Nhà nước phải bồi thường đối với thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực tố tụng hình sự thì  Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có thẩm quyền ra quyết định hoàn trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại do mình quản lý và kiến nghị Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan ra quyết định hoàn trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại do cơ quan đó quản lý (điểm b khoản 3 Điều 66).
(7) Bổ sung vào quy định về thực hiện việc hoàn trả (Điều 68) trường hợp người thi hành công vụ phải hoàn trả là người đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi hoặc phụ nữ đang mang thai thì được hoãn việc hoàn trả theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại (khoản 3).
(8) Bổ sung 04 Điều mới quy định về: xử lý tiền đã hoàn trả, trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường (Điều 69); trách nhiệm thu tiền hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại chuyển sang cơ quan, tổ chức khác (Điều 70); trách nhiệm thu tiền hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại đã nghỉ hưu, nghỉ việc (Điều 71) và trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại chết (Điều 72).
Việc bổ sung các Điều mới trên đây là xuất phát từ thực tế qua hơn 6 năm thi hành Luật TNBTCNN 2009, nhiều cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong khi Luật TNBTCNN lại chưa có quy định cụ thể. Chính vì vậy, việc bổ sung thêm các quy định mới về xác định trách nhiệm hoàn trả tại dự thảo Luật sẽ góp phần thực hiện nghiêm túc hơn việc xác định trách nhiệm hoàn trả trên thực tiễn[27].
10. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC
Đây cũng là nội dung được sửa đổi căn bản trong Luật TNBTCNN năm 2017, theo đó, quy định thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Cơ quan thống nhất quản lý nhà nước là Chính phủ và Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này.
Việc sửa đổi quy định về quản lý nhà nước về công tác bồi thường là bởi:
Thứ nhất, theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 thì Chính phủ “thống nhất quản lý công tác hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, bồi thường nhà nước, thi hành án” (khoản 3 Điều 6 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015). Chính vì vậy, việc sửa đổi quy định này là để bảo đảm sự phù hợp giữa Luật TNBTCNN với Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015.
Thứ hai, quản lý nhà nước về công tác bồi thường được Luật TNBTCNN 2009 quy định chỉ mang tính chất nguyên tắc chung, đồng thời, trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường được quy định theo hướng phân tán, trong đó, Chính phủ quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án, còn trong hoạt động tố tụng thì Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm quản lý nhà nước trong phạm vi ngành mình. Chính vì quy định theo hướng như vậy nên không có một cơ quan nào thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong ba hoạt động trên phạm vi cả nước và dẫn tới hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về công tác bồi thường đã không đạt được như mong muốn. Hơn nữa, trách nhiệm quản lý nhà nước được quy định theo hướng như trên nên trong thực tế, việc quản lý nhà nước về công tác bồi thường cũng không được thực hiện thống nhất, việc phối hợp nắm bắt tổng thể tình hình thực hiện công tác bồi thường giữa các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh cũng gặp nhiều khó khăn do đòi hỏi phải liên tục có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này[28]. Chính vì vậy, việc sửa đổi quy định này là nhằm khắc phục triệt để những khó khăn, vướng mắc trong quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trên thực tiễn.
 
                                                                                                            Nguồn: Cục Bồi thường nhà nước.
                                                                                                            Tác giả: Lê Thái Phương.


Nguồn tin: btnn.moj.gov.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 30
  • Hôm nay: 1559
  • Tháng hiện tại: 40170
  • Tổng lượt truy cập: 3989658