Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 tạo thuận lợi hơn trong việc cấp phát kinh phí bồi thường, chi trả tiền bồi thường

Đăng lúc: Thứ sáu - 29/12/2017 01:53 - Người đăng bài viết: thanhtu

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 tạo thuận lợi hơn trong việc cấp phát kinh phí bồi thường, chi trả tiền bồi thường

13/12/2017

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 được sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/7/2018, Luật đã sửa đổi cơ bản các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, trong đó có quy định về cấp phát kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả tiền bồi thường theo hướng đơn giản, nhanh gọn hơn, đồng thời có các quy định tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người bị thiệt hại và cơ quan giải quyết bồi thường.
Kinh phí bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Luật TNBTCNN năm 2017) đó là một khoản kinh phí trong ngân sách nhà nước để thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng như bảo đảm tính khả thi trong việc thực hiện pháp luật về bồi thường Nhà nước. Một số nội dung cơ bản về cấp phát kinh phí bồi thường, chi tiền bồi thường theo Luật TNBTCNN năm 2017, bao gồm:
1. Về nguồn kinh phí bồi thường
a) Kinh phí quản lý Nhà nước ở Trung ương và địa phương
So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 về cơ bản có sự kế thừa về nguồn kinh phí quản lý nhà nước, theo đó, trường hợp cơ quan trung ương có trách nhiệm bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách Trung ương; trường hợp cơ quan địa phương có trách nhiệm bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách cấp tỉnh. Điểm khác duy nhất đối với việc phân cấp trong việc bảo đảm kinh phí bồi thường, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định rõ đối với trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách cấp tỉnh để tránh việc hiểu không thống nhất bởi theo quy định Điều 6 Luật Ngân sách năm 2015 thì ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.
b) Kinh phí cho chi trả tiền bồi thường và định giá, giám định
Luật TNBTCNN năm 2009 chưa quy định cụ thể về cơ quan lập dự toán và nguồn kinh phi chi cho trong việc tổ chức việc định giá tài sản, giám định thiệt hại. Vì vậy, dẫn đến hệ lụy cơ quan tài chính chỉ cấp kinh phí để chi trả cho người bị thiệt hại mà không cấp kinh phí cho cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường thực hiện định giá tài sản, giám định thiệt hại. Để khắc phục hạn chế trên, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan Bộ Tài chính, Sở Tài chính các tỉnh thành sẽ căn cứ thực tế chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại đã cấp phát của năm trước để lập dự toán. Như vậy, trong quá trình giải quyết bồi thường định giá tài sản và giám định thiệt hại sẽ được ngân sách nhà nước cấp bổ sung mà không lấy vào kinh phí hoạt động của cơ quan giải quyết bồi thường. Như vậy, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định cụ thể cơ quan lập dự toán để bảo đảm cơ sở cho việc chi định giá tài sản, giám định thiệt hại.
2Lập dự toán kinh phí bồi thường
Cũng giống như Luật TNBTCNN năm 2009, cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh phí bồi thường là cơ quan tài chính ở Trung ương và cơ quan tài chính ở địa phương. Việc lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường, theo Luật TNBTCNN năm 2009 quy định trách nhiệm thuộc cơ quan giải quyết bồi thường cụ thể:
Theo quy định tại Điều 53 Lập dự toán kinh phí bồi thường : “Hằng năm, căn cứ thực tế bồi thường của năm trước, cơ quan tài chính các cấp phối hợp với cơ quan, đơn vị cùng cấp lập dự toán kinh phí bồi thường để tổng hợp vào dự toán ngân sách cấp mình, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và được phân bổ cho cơ quan, đơn vị khi có yêu cầu chi trả tiền bồi thường”.
Theo Luật TNBTCNN năm 2009, cơ sở để lập dự toán hằng năm căn cứ vào kết quả thực tế bồi thường của năm trước để lập dự toán. Tại Trung ương, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành lập dự toán kinh phí bồi thường; tại địa phương Sở Tài chính phối hợp với các sở, ban ngành của địa phương lập dự toán kinh phí bồi thường. Quy định theo Luật TNBTCNN năm 2009, tất cả các cơ quan đều phải lập dự toán, trong khi đó để có cơ sở lập dự toán kinh phí, hằng năm phải căn cứ vào kết quả thực tế bồi thường của năm trước để lập dự toán. Tuy nhiên, thực tế thi hành Luật TNBTCNN năm 2009 không phải cơ quan nào cũng phát sinh bồi thường nên việc lập dự toán rất khó khăn vì không có căn cứ và tính khả thi thấp. Do đó, hầu hết các cơ quan đều không lập được dự toán kinh phí. Mà theo Luật TNBTCNN năm 2009 có khoảng 28.000 cơ quan lập dự toán ngân sách bồi thường nhà nước hằng năm.
Khác với quy định của Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 có quy định đơn giản hơn về thẩm quyền lập dự toán kinh phí bồi thường: về lập dự toán (Điều 61), có sự thống nhất về đầu mối là cơ quan tài chính, cụ thể:
“1. Hằng nămcăn cứ thực tế số tiền bồi thườngchi phí cho việc định giá tài sảngiám định thiệt hại đã cấp phát của năm trướcBộTài chính lập dự toán kinh phí bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ươngbáo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xétquyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Hằng nămcăn cứ thực tế số tiền bồi thườngchi phí cho việc định giá tài sảngiám định thiệt hại đã cấp phát của năm trướcSởTài chính lập dự toán kinh phí bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địaphươngbáo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xétquyết định theo quy định của pháp luật vềngân sách nhà nước”.
Như vậy,  nếu theo Luật TNBTCNN năm 2009 có khoảng 28.000 cơ quan phải lập dự toán thì theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017, trách nhiệm lập dự toán kinh phí bồi thường chỉ do Bộ Tài chính và 63 Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện. Việc quy định như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lập dự toán, thống nhất đầu mối lập dự toán bảo đảm việc lập dự toán có tính khả thi, có cơ sở, đơn giản hóa thủ tục tránh quá nhiều cơ quan lập dự toán.
3. Hồ sơ đ nghị cấp kinh phí bồi thường
Theo quy định tại Điều 54 Luật TNBTCNN năm 2009 quy định hồ sơ gồm Văn bản đề nghị cấp kinh phí bồi thường; Bản sao văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; Bản án, quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật.  Khác với quy định của Luật TNBTCNN năm 2009, theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 62 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường đối với 02 trường hợp: tại cơ quan giải quyết bồi thường và tại Tòa án cụ thể gồm có:
aVăn bản đ nghị cấp kinh phí bồi thường có ghi đầy đ thông tin về người bị thiệt hạicăn cứ đ xác định các khoản tiền bồithườngcác khoản tiền bồi thường đối với các thiệt hại cụ thể và tổng số tiền đ nghị được cấp đ thực hiện việc chi trả tiền bồithường;
bBản sao văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường (áp dụng đối với trường hợp giải quyết tại cơ quan giải quyết bồi thường)
cBản ánquyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền về giải quyết yêu cầu bồi thường.”
Như vậy, so với quy định của Luật TNBTCNN năm 2009 việc phân chia hồ sơ đối với 02 trường hợp để việc áp dụng được cụ thể, rõ ràng bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ hơn.
4. Thủ tục cấp phát kinh phí và chi trả tiền bồi thường
Luật TNBTCNN năm 2009 quy định cụ thể về thời gian thẩm định hồ sơ, kiểm tra tính hợp lệ và thời hạn bổ sung hồ sơ kéo dài. Trên cơ sở kinh phí được cơ quan tài chính cấp phát thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường thực hiện việc chi trả theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật TNBTCNN năm 2009) và Điều 7 Thông tư liên tịch số 71):
Cơ quan tài chính thực hiện kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ trong thời hạn 05 ngày, trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cơ quan có trách nhiệm bồi thường bổ sung trong thời hạn 15 ngày.
Theo quy định tại Điều 62 Luật TNBTCNN năm 2017 đã rút ngắn thời gian gửi hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường đến cơ quan tài chính có thẩm quyền chỉ có 02 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu bồi thường có hiệu lực pháp luật, đồng thời bỏ quy định về kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường của cơ quan tài chính có thẩm quyền và của cơ quan chủ quản (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại.
Việc chi trả cho người thiệt hại cũng được thực hiện nhanh gọn hơn, nếu như  Luật TNBTCNN năm 2009 thời gian là 05 ngày thì theo Luật TNBTCNN năm 2017 thời gian cũng được rút ngắn hơn đảm bảo kịp thời hơn cho người bị thiệt hại. Cụ thể, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được thông báo, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải tiến hành chi trả tiền bồi thường.
Trên thực tiễn việc giải quyết bồi thường có trường hợp đã thực hiện chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên cũng có trường hợp người bị thiệt hại không hợp tác, phối hợp với cơ quan giải quyết bồi thường, không nhận tiền bồi thường nhằm gây khó khăn cho cơ quan giải quyết bồi thường. Để khắc phục thực tế trên, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định trường hợp về sung quỹ nhà nước nếu người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường trong thời hạn luật định, cụ thể theo khoản 6 Điều 62:
Hết thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được thông báo quy định tại khoản 5 Điều này mà người yêu cầu bồi thường không nhậntiền bồi thường thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại làm thủ tục sung quỹ nhà nước theo quy định củapháp luậtKhoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự không tính vàothời hạn quy định tại khoản này
5. Về tạm ứng kinh phí bồi thường
Đây là quy định hoàn toàn mới liên quan đến cấp phát kinh phí bồi thường nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại được bù đắp kịp thời một phần thiệt hại đặc biệt trong tố tụng hình sự. Khắc phục hạn chế của Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định 01 Điều (Điều 44) về tạm ứng kinh phí bồi thường. Theo đó, ngay sau khi nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền đề nghị tạm ứng một phần về tinh thần mà thiệt hại đó có thể tính được ngay mà không cần xác minh kinh phí nhằm kịp thời khắc phục những thiệt hại. Tuy nhiên, để được tạm ứng kinh phí bồi thường Luật quy định cần có điều kiện nhất định cũng như trách nhiệm của cơ quan, trình tự, thủ tục tạm ứng kinh phí.
a) Điều kiện tạm ứng kinh phí
Theo Luật TNBTCNN năm 2017, ngay sau khi nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường người bị thiệt hại có quyền đề nghị tạm ứng kinh phí. Điều kiện để áp dụng quy định này đối với một số trường hợp như thiệt hại không phải xác minh và một số thiệt hại tinh thần cụ thể: thiệt hại về tinh thần quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 27 Luật TNBTCNN năm 2017 được tạm ứng kinh phí bao gồm: thiệt hại về tinh thần trong trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; thiệt hại về tinh thần trong trường hợp bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong hoạt động tố tụng hình sự; thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại không bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc chấp hành hình phạt không phải là hình phạt tù; thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo; thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại đã chấp hành xong hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án mà sau đó mới có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự; thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết và thiệt hại về tinh thần trong trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật.
b) Về trách nhiệm của cơ quan, trình tự, thủ tục tạm ứng kinh phí
- Trách nhiệm của người giải quyết bồi thường: ngay sau khi thụ lý hồ sơ, người giải quyết bồi thường có trách nhiệm xác định giá trị các thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật TNBTCNN năm 2017 và đề xuất Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường việc tạm ứng kinh phí bồi thường và mức tạm ứng cho người yêu cầu bồi thường;
Thời gian: trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề xuất, nếu còn dự toán quản lý hành chính được cấp có thẩm quyền giao, cơ quan giải quyết bồi thường phải hoàn thành việc tạm ứng kinh phí và chi trả cho người yêu cầu bồi thường.
Tạm ứng kinh phí:
+ Trường hợp còn đủ dự toán quản lý hành chính: Trên cơ sở kinh phí đã tạm ứng để chi trả cho người yêu cầu bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường đề nghị cơ quan tài chính có thẩm quyền cấp bổ sung kinh phí đã tạm ứng cho người yêu cầu bồi thường.
+ Trường hợp không còn đủ dự toán quản lý hành chính được cấp có thẩm quyền giao, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề xuất, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường có văn bản đề nghị cơ quan tài chính có thẩm quyền tạm ứng kinh phí để chi trả cho người yêu cầu bồi thường.
- Trách nhiệm của cơ quan tài chính:
+ Trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường đã tạm ứng kinh phí cho người yêu cầu bồi thường, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị bổ sung kinh phí quy định tại điểm b khoản 2 Điều 44, cơ quan tài chính có thẩm quyền có trách nhiệm bổ sung kinh phí cho cơ quan giải quyết bồi thường.
+ Trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường có văn bản đề nghị tạm ứng kinh phí, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị quy định tại điểm c khoản 2 Điều 44, cơ quan tài chính có thẩm quyền có trách nhiệm cấp kinh phí cho cơ quan giải quyết bồi thường.
- Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường quyết định mức tạm ứng cho người yêu cầu bồi thường nhưng không dưới 50% giá trị các thiệt hại theo quy định của Luật.
Việc quy định tạm ứng kinh phí bồi thường nhằm tạo thuận lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường, đồng thời kịp thời bù đắp những thiệt hại phải gánh chịu.
6. Quyết toán kinh phí bồi thường
Tại Điều 55 Luật TNBTCNN năm 2009 quy định cụ thể về quyết toán kinh phí bồi thường. Theo đó, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm bồi thường lập quyết toán kinh phí đã chi trả bồi thường, tổng hợp chung trong quyết toán ngân sách hàng năm của cơ quan, đơn vị gửi cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.. Luật TNBTCNN năm 2009 có quy định kết thúc năm ngân sách cơ quan có trách nhiệm bồi thường được Nhà nước cấp kinh phí để giải quyết bồi thường hoặc cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có trách nhiệm lập quyết toán kinh phí đã chi và tổng hợp chung trong quyết toán ngân sách hàng năm của cơ quan đơn vị gửi Bộ Tài chính đối với cơ quan Trung ương, gửi Sở Tài chính đối với cơ quan địa phương. Như vậy, có khoảng 28.000 cơ quan lập dự toán sẽ thực hiện quyết toán kinh phí bồi thường theo quy định của Luật. So với quy định của Luật TNBTCNN năm 2009, việc quyết toán được quy định đơn giản hơn, cụ thể Điều 63 Luật TNBTCNN năm 2017:
1. Sau khi chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm gửi giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc chi trả tiền bồi thường cho cơ quan tài chính đã cấp phát kinh phí để quyết toán theo quy định của pháp luật.
2. Kết thúc năm ngân sách, Bộ Tài chính, Sở Tài chính có trách nhiệm quyết toán kinh phí bồi thường theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.”
Khác với quy định của Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 chỉ có cơ quan Bộ Tài chính, Sở Tài chính các tỉnh thành thực hiện quyết toán kinh phí bồi thường phù hợp với việc lập dự toán theo Luật TNBTCNN năm 2017 cũng như giảm tải thủ tục hành chính.
Nhìn chung, quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 về việc cấp phát kinh phí bồi thường, chi trả bồi thường tạo thuận lợi cho người yêu cầu bồi thường cũng như cơ quan giải quyết bồi thường. Để chuẩn bị cho công tác đưa Luật vào cuộc sống, các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan cần xác định trách nhiệm quyền hạn của mình, có sự chuẩn bị về nhân sự để triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ theo Luật TNBTCNN năm 2017 từ việc tiếp nhận hồ sơ cho đến giai đoạn cấp phát chi trả tiền bồi thường. Đặc biệt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần thực hiện tốt để nâng cao nhận thức của người dân trong việc hợp tác với cơ quan nhà nước trong giải quyết bồi thường.
 
                                                                                                            Nguồn: Cục Bồi thường nhà nước.
                                                                                                            Tác giả:  Ths. Chu Thị Tuyết Lan.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 11
  • Hôm nay: 2143
  • Tháng hiện tại: 18024
  • Tổng lượt truy cập: 4087874