Báo Công Giáo | Tin tức công giáo | Viettel Kon Tum

Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đối chiếu với quy định của pháp luật Việt Nam

Đăng lúc: Thứ sáu - 29/12/2017 01:51 - Người đăng bài viết: thanhtu

Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đối chiếu với quy định của pháp luật Việt Nam

30/06/2014
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN) được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2009 và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010. Đến nay, sau gần 5 năm thi hành trên thực tiễn, Luật TNBTCNN đã từng bước đi vào cuộc sống, việc thi hành Luật cũng đạt được kết quả trên nhiều mặt, góp phần đáng kể vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức cũng như củng cố lòng tin của người dân vào hoạt động của bộ máy nhà nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thi hành Luật cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc mà một trong những nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc là từ chính những quy định hiện hành của Luật TNBTCNN và văn bản hướng dẫn thi hành. Chính vì vậy, để tăng cường hiệu quả thi hành chế định pháp luật này thì yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN là một trong những yêu cầu đặt ra hiện nay. Để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước của một số nước trên thế giới.
1. Nguồn của pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước
Nhìn chung, pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được hình thành từ hai nguồn chính, một là, hình thành từ các đạo luật được ban hành, và hai là, hình thành từ các án lệ - thực tiễn xét xử của Tòa án. Hoa Kỳ là quốc gia điển hình cho nguồn thứ nhất. Tại Hoa kỳ, pháp luật nước này quy định Nhà nước Hoa Kỳ không thể bị kiện nếu như không có sự đồng thuận của chính quốc gia này. Chỉ Quốc hội Hoa Kỳ mới có thẩm quyền phủ quyết hoặc thừa nhận việc áp dụng nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm quốc gia [12, T17], do đó, năm 1946, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành Luật Khiếu kiện bồi thường thiệt hại của liên bang quy định phủ quyết nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm quốc gia đối với việc bồi thường thiệt hại do cán bộ nhà nước gây ra trong hoạt động hành chính [12, T17]. Đối với nguồn hình thành từ con đường thực tiễn xét xử của Tòa án thì CHLB Đức là một ví dụ điển hình. Năm 1981, đạo luật về trách nhiệm nhà nước đã được Quốc hội CHLB Đức thông qua. Tuy nhiên ngay sau đó, luật này đã bị hủy bỏ do không phù hợp với quy định của Hiến pháp Đức [3, T23] và do đó, các yêu cầu bồi thường Nhà nước thiệt hại khác được hình thành và phát triển thông qua con đường xét xử - án lệ của Tòa án Đức và đã được thừa nhận rộng rãi [3, T24]Về mặt lý thuyết, sự hình thành nên pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có thể phân ra thành hai nguồn chính như trên. Tuy nhiên, cũng có sự tồn tại của dạng nguồn hình thành mang tính chất hỗn hợp mà trong đó, chế định trách nhiệm bồi thường nhà nước được hình thành không chỉ thông qua việc ban hành các đạo luật mà còn từ án lệ của Tòa án. Đối với trường hợp này thì Nhật Bản là một ví dụ điển hình. Điều 1 Luật Bồi thường nhà nước năm 1947 của Nhật Bản chỉ quy định về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước; trong mọi trường hợp khi có đủ các điều kiện trên thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước. Mặc dù điều luật này không quy định rõ là Luật Bồi thường nhà nước sẽ được áp dụng với lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước, nhưng theo các chuyên gia pháp lý của Nhật Bản thì việc Luật không quy định cụ thể được đồng nghĩa với việc Luật không loại trừ bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước [7, T126] - tất nhiên là chỉ đối với những hành vi gây thiệt hại mang tính chất công quyền. Đối với hoạt động của một số đơn vị công lập của Nhà nước (trường học, bệnh viện...), về nguyên tắc, đây không phải là những hoạt động mang tính chất công quyền, tuy nhiên, thực tiễn xét xử của các Tòa án Nhật Bản đã xác định hoạt động của trường học, bệnh viện thuộc quản lý của Nhà nước cũng thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước. Trước đây, ở Nhật Bản có một số vụ việc, cụ thể là một học sinh (khi đó 13 tuổi) khi học tại một trường trung học cơ sở tại Tokyo đã bị bạn bè cùng lớp bắt nạt. Do không chịu nổi áp lực nên học sinh này đã tự sát. Giáo viên chủ nhiệm của lớp mà học sinh này theo học được nhận định là mặc dù biết về việc học sinh đó bị bắt nạt nhưng đã không có bất cứ biện pháp gì để tác động hoặc giúp đỡ. Một vụ việc khác là các học sinh đang học tập tại một trường trung học cơ sở tại Tokyo, trong một giờ tập thể dục với bộ môn ném lao đã ném trúng đầu một người (khi đó 14 tuổi) đi ngang qua đó. Hậu quả là người đó bị thương rất nặng. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ là giáo viên thể dục đã không có mặt tại sân tập khi tai nạn xảy ra. Đây là hai vụ việc mà Toà án ở Nhật Bản đã có phán quyết và coi đây là một trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước [6, T9].
2. Trách nhiệm bồi thường nhà nước có được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng biệt?
Về vấn đề này, giữa các quốc gia cũng có sự khác biệt, trong đó, có những quốc gia có đạo luật riêng điều chỉnh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và ngược lại, có những quốc gia, pháp luật về bồi thường nhà nước lại tản mát, không có tính hệ thống, không được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng biệt.
Ở Bắc Mĩ, Canada và Hoa Kỳ là những nước có luật điều chỉnh riêng về trách nhiệm bồi thường nhà nước. Canada có luật về bồi thường nhà nước từ rất sớm, ngày 14 tháng 5 năm 1953, Luật về trách nhiệm nhà nước (Crow Liability Act) của Liên bang Canada được ban hành [2, T169]. Đến năm 1990, Luật về Trách nhiệm nhà nước được sửa đổi thành Luật về thủ tục và trách nhiệm nhà nước (Crow Liability and Proceedings Act)...Trên cơ sở các quy định chung của liên bang, nhiều bang cũng ban hành Luật riêng hướng dẫn như Bang Manibota ban hành Luật về thủ tục khởi kiện Nhà nước năm 1990, Bang Ontario ban hành Luật về thủ tục khởi kiện Nhà nước năm 1990 (được sửa đổi năm 1994, 1997, 2004), Bang Nova Scotia ban hành Luật về thủ tục khởi kiện Nhà nước năm 1989 (được sửa đổi năm 1991) [2, T170]. Đối với Hoa Kỳ, trách nhiệm bồi thường nhà nước tại Hoa Kỳ được điều chỉnh bằng Luật Khiếu kiện bồi thường liên bang ban hành năm 1946 (gọi tắt là FTCA) [15, T231]. Tại Châu á, nhiều nước có Luật điều chỉnh riêng về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Hàn Quốc có Luật riêng về bồi thường nhà nước ban hành năm 1967 [10, T148] và Luật về đền bù hình sự ban hành năm 1958 [10, T153]. Nhật Bản có ban hành Luật riêng về bồi thường nhà nước là Luật Bồi thường nhà nước ban hành năm 1947 và Luật Đền bù hình sự ban hành năm 1950 [7, T123]. Tại Trung Quốc, năm 1989, Trung Quốc đã ban hành Luật về thủ tục giải quyết vụ án hành chính, trong đó, quy định thủ tục đặc biệt nhằm thực hiện trách nhiệm của cơ quan hành chính, tuy nhiên, phải đến năm 1994, vấn đề bồi thường nhà nước mới có khung pháp luật riêng biệt. Luật ngày 12/5/1994 có tên là “Luật Bồi thường nhà nước” được ban hành nhằm điều chỉnh vấn đề này [16, T23]. Tại Châu âu, một số quốc gia cũng có Luật điều chỉnh riêng về trách nhiệm bồi thường nhà nước. Ví dụ, Thụy Sỹ có luật riêng về bồi thường nhà nước, cụ thể là Luật liên bang ngày 14/3/1958 về trách nhiệm của Liên bang và công chức, viên chức của Liên bang. Tương tự như Canada, Thụy Sỹ là quốc gia mà Nhà nước được tổ chức theo mô hình liên bang, trong đó, có 26 bang tại Thụy Sỹ. Ngoài luật của Liên bang, tại các Bang cũng có luật bồi thường nhà nước riêng của mình. Đến nay, 26 bang đã ban hành các quy định pháp luật của riêng mình về trách nhiệm bồi thường nhà nước. Trên thực tế, pháp luật liên bang có ảnh hưởng rất lớn đối với pháp luật của các bang. Chính vì vậy đến ngày nay, rất ít bang (5 bang) có hệ thống pháp luật khác với pháp luật của liên bang (trách nhiệm khách quan duy nhất của Nhà nước). Ví dụ, Bang Giơ-ne-vơ duy trì trong luật của mình (Luật Bồi thường nhà nước năm 1989) điều kiện lỗi. Một số bang ban hành các quy định đặc thù trong 03 lĩnh vực: hoạt động tư pháp, thông tin, hoạt động khám chữa bệnh trong các bệnh viện công. Trong trường hợp này, trách nhiệm gắn liền với hành vi vi phạm và lỗi. Ở nhiều bang, khiếu kiện về trách nhiệm bồi thường nhà nước thuộc thẩm quyền của Tòa án dân sự, ở một số bang khác thì thuộc thẩm quyền của Tòa hành chính (ví dụ Bang NeuChâtel). Ở Bang Vaud, có quy định một thủ tục đặc biệt đối với thành viên Chính phủ bang và thẩm phán bang. Việc khiếu kiện các quyết định chung thẩm của các bang trong lĩnh vực luật công được tiến hành tại Tòa án liên bang [1, T22].
Ngược lại với các quốc gia nêu trên, ở một số quốc gia khác thì pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước lại không được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng biệt mà nằm tản mát ở nhiều văn bản khác nhau. Ví dụ, ở Indonesia không có một luật riêng về bồi thường nhà nước mà trách nhiệm bồi thường nhà nước được quy định trong Luật về Tòa án hành chính và Luật Dân sự [8]. Ở một số nước Châu âu, Cộng hòa Pháp cũng không có một đạo luật riêng biệt về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Chế định về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong pháp luật Pháp nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau và có phạm vi khá rộng. Vào thời điểm khi mới hình thành, chế định này không phải là kết quả trực tiếp của một quy trình pháp điển hóa các quy phạm pháp luật cụ thể, nghĩa là không xuất phát từ ý chí của nhà lập pháp, mà nó là kết quả của thực tiễn xét xử của các Tòa án Pháp [14, T122]. Tương tự như pháp luật của Cộng hòa Pháp, chế định bồi thường nhà nước của CHLB Đức cũng không có luật riêng điều chỉnh mà chủ yếu hình thành từ các án lệ trên cơ sở những nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự.
3. Bản chất quan hệ trách nhiệm bồi thường nhà nước
Có thể nói, đa số các quốc gia đều coi trách nhiệm bồi thường nhà nước là một loại trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong khi chỉ một số ít quốc gia coi quan hệ pháp luật này là quan hệ hành chính hoặc “nửa hành chính, nửa dân sự”. Một số nước còn có sự phân biệt rạch ròi giữa hai loại trách nhiệm “bồi thường thiệt hại” và “đền bù tổn thất” dựa trên xác định tính hợp pháp của hành vi gây thiệt hại.
Theo quy định của pháp luật Canada thì trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xác định như một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó, Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm như một cá nhân đối với  những thiệt hại do vi phạm ngoài hợp đồng gây ra bởi cơ quan/công chức thừa hành công vụ của mình gây ra [2, T170]. Các án lệ của CHLB Đức thì thừa nhận, mặc dù, các chủ thể của hành vi công quyền phụng sự quốc gia theo các hình thức pháp lý khác với các hình thức pháp lý của Luật dân sự, song hậu quả pháp lý của những hành vi này lại được xem xét dưới các hình thức trách nhiệm pháp lý của dân luật [11, T157]. Pháp luật của Thụy Sỹ thì coi quan hệ trách nhiệm bồi thường nhà nước là quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó, các điều kiện khác có thể làm phát sinh trách nhiệm của Liên bang tương tự các điều kiện quy định trong luật tư (thiệt hại, quan hệ nhân quả, hành vi trái pháp luật) [1, T21].  Đối với Cộng hòa Pháp, trên cơ sở án lệ Blanco năm 1873 đã đưa ra 03 nhận định quan trọng liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đó là: thứ nhất, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với thiệt hại do lỗi của viên chức nhà nước gây ra cho người dân không thể chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc quy định trong Bộ luật dân sự giống như quan hệ giữa cá nhân với cá nhân; thứ hai, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không phải là tuyệt đối và cũng không đặt ra trong tất cả mọi trường hợp và thứ ba, cơ chế trách nhiệm bồi thường nhà nước được điều chỉnh bằng những nguyên tắc riêng và những nguyên tắc đó có thể thay đổi tùy thuộc vào nhu cầu thực hiện dịch vụ công. Với những lý lẽ nêu trên, có thể nhận thấy, mặc dù thừa nhận trách nhiệm bồi thường (về mặt dân sự) của một chủ thể đặc biệt là Nhà nước, các thẩm phán Pháp vào thời đó vẫn cho rằng, trách nhiệm này không xuất hiện trong tất cả mọi trường hợp, nghĩa là, không phải cứ nhân viên nhà nước gây thiệt hại thì đều phải bồi thường, trách nhiệm này chỉ được coi như là một ngoại lệ đặt ra trong một số trường hợp hết sức đặc biệt mà thôi [14, T113]. Tuy nhiên, theo thời gian thì chế định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Cộng hòa Pháp đã có nhiều thay đổi. Các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày càng mở rộng. Bên cạnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi, đã xuất hiện nhiều trường hợp trong đó cơ quan nhà nước có thể phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi [14, T113]. Đối với pháp luật của Hoa Kỳ, Điều 2672 của FTCA quy định: “Yêu cầu bồi thường hội đủ các yếu tố bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là điều kiện tiên quyết để xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước”. Tại Hàn Quốc, Luật Bồi thường nhà nước được xác định là một phần trong khái niệm của Luật hành chính, do đó, Luật Bồi thường nhà nước thuộc hệ thống luật công. Tuy nhiên, Các Tòa án truyền thống đã quyết định rằng, quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và bên cá nhân yêu cầu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Nhà nước do hành vi của công chức gây ra, về bản chất, là vấn đề của Luật tư. Từ thuyết luật tư, bản thân Luật Bồi thường nhà nước thể hiện rằng, Nhà nước từ bỏ vị trí đặc quyền và ở vị trí ngang hàng với cá nhân. Việc Điều 8 Luật Bồi thường nhà nước năm 1967 của Hàn Quốc quy định việc áp dụng bổ sung Bộ luật Dân sự đã khẳng định điều này [10, T149].
Pháp luật của Trung Quốc thì coi trách nhiệm bồi thường nhà nước là một loại trách nhiệm pháp lý đặc thù, không hoàn toàn giống với trách nhiệm bồi thường thông thường theo quy định của pháp luật dân sự, vì trong trường hợp này, Nhà nước đứng ra chịu trách nhiệm bồi thường cho đương sự, trong khi đó, bồi thường dân sự lại dựa trên nguyên tắc “người nào vi phạm, người đó phải bồi thường” [9, T141]. Đặc biệt, Luật Bồi thường nhà nước năm 1994 của Trung Quốc không chỉ quy định về những vấn đề nội dung mà quy định cả về những vấn đề thủ tục - tố tụng [16, T23].
Tương tự như Hàn Quốc, Luật Bồi thường nhà nước năm 1947 của Nhật Bản cũng quy định việc áp dụng bổ sung các quy định của Bộ luật dân sự khi giải quyết vấn đề bồi thường nhà nước, điều này đã khẳng định trách nhiệm bồi thường nhà nước tại Nhật Bản được coi là quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bên cạnh đó, trên cơ sở xác định tính hợp pháp của hành vi gây thiệt hại, pháp luật về bồi thường nhà nước của Nhật Bản có sự tách bạch rõ ràng giữa “trách nhiệm bồi thường thiệt hại” và “trách nhiệm đền bù tổn thất” [7, T124]. Trong quan niệm chính thống tại Nhật Bản, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Nhà nước đã thực hiện một hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, vì vậy cũng như một chủ thể thông thường, Nhà nước phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình - phải bồi thường thiệt hại. Ở đây bồi thường thiệt hại là một nghĩa vụ tự thân, một nghĩa vụ bắt buộc, ngược lại, trong trách nhiệm đền bù tổn thất, Nhà nước đã thực hiện những hành vi hoàn toàn hợp pháp và vì lợi ích chung (điều tra tội phạm vì an toàn xã hội, tổ chức chương trình tiêm chủng quốc gia để thực hiện chính sách y tế dự phòng.v.v..). Tuy nhiên, những hành vi này của Nhà nước lại không thể tránh khỏi việc gây ra thiệt hại cho một số đối tượng nhất định. Dù rằng những hành vi mà Nhà nước thực hiện là hoàn toàn đúng luật và cũng rất cần thiết nhưng từ phía người bị thiệt hại thì lợi ích của họ bị tổn thất. Chính vì vậy, việc xem xét để đền bù một cách hợp lý, thỏa đáng cho người bị thiệt hại là việc làm cần thiết (chứ không phải nghĩa vụ bắt buộc) của Nhà nước [7, T125].
Pháp luật về bồi thường nhà nước của Việt Nam cũng coi quan hệ pháp luật này là một quan hệ pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, và khi hội đủ các yếu tố luật định thì trách nhiệm bồi thường nhà nước được xác định (Điều 619, 620 Bộ luật Dân sự 2005, Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009).
4. Khái niệm người thi hành công vụ
Đa số các nước đều quan niệm không nhất thiết phải là công chức nhà nước, một cá nhân bất kỳ, miễn là được giao thực hiện công vụ, thì được coi là người thi hành công vụ. Tại Hàn Quốc, phạm vi công chức là tương đối rộng và cá nhân được giao công vụ của Nhà nước thì được coi là công chức Nhà nước [10, T150]. Ở Nhật Bản, mặc dù Điều 1 Luật Bồi thường nhà nước năm 1947 chỉ quy định là “công chức” một cách chung chung như vậy, song theo các chuyên gia Nhật Bản, công chức được hiểu theo một phạm vi rất rộng, theo đó, bất kỳ ai, dù là công chức hay không phải công chức theo quy định của pháp luật về công chức, nhưng người đó chỉ cần thực hiện nhiệm vụ mà Nhà nước phân công thì người đó được hiểu là công chức. Ví dụ: một bác sỹ hành nghề tư nhân, nhưng nếu bác sỹ này tham gia vào Chương trình tiêm chủng quốc gia do Nhà nước tổ chức thì khi đó, bác sỹ này được coi là công chức nếu ông ta đang thực hiện các nhiệm vụ theo chương trình này phân công [7, T128]. Đối tượng điều chỉnh của Luật bồi thường nhà nước của Thụy Sỹ thì coi người thi hành công vụ là tất cả những người có thể phải chịu trách nhiệm theo luật công, và cả những đối tượng khác (pháp nhân hoặc thể nhân) trực tiếp chịu trách nhiệm thực thi công vụ của Liên bang. Việc những đối tượng này phục vụ Liên bang với tư cách chuyên trách hoặc kiêm nhiệm, do Liên bang trả lương hay do một bên thứ ba trả lương, có quy chế chịu sự điều chỉnh của luật công hay luật tư, không có ảnh hưởng gì. Các pháp nhân công pháp của Liên bang (ví dụ: Viện luật so sánh Thụy Sỹ) chịu sự điều chỉnh của Luật; cũng tương tự như vậy đối với các chủ thể luật tư thực thi nhiệm vụ công [1, T20].
Quan niệm đa số nêu trên cũng được thể hiện trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của Việt Nam, theo đó, người thi hành công vụ không chỉ là công chức, viên chức nhà nước mà còn có thể là những đối tượng khác được giao thực hiện công vụ mà pháp luật quy định (Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009).
5. Quyền yêu cầu bồi thường
Quyền yêu cầu bồi thường thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất, khi nào thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường và thứ hai, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu ai bồi thường. Đa số pháp luật của các nước quy định người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu bồi thường và khi yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại không có quyền yêu cầu người thi hành công vụ bồi thường mà phải yêu cầu Nhà nước, hoặc cơ quan nhà nước bồi thường. Luật Bồi thường nhà nước của Thụy Sỹ quy định rõ ràng là “người bị thiệt hại không có quyền yêu cầu công chức có lỗi bồi thường” [1, T20]. Tuy nhiên, pháp luật Thụy Sỹ lại không quy định cho người bị thiệt hại quyền được khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu bồi thường mà trước hết người bị thiệt hại phải gửi yêu cầu của mình đến Bộ Tài chính để xem xét. Đối với Nhật Bản, Luật Bồi thường nhà nước năm 1947 quy định cho người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa để yêu cầu bồi thường thiệt hại [7, T125].
Pháp luật của Việt Nam có điểm tương đồng với pháp luật Thụy Sỹ là không quy định quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết bồi thường ngay mà quy định việc giải quyết bồi thường trước hết phải được thực hiện thông qua thủ tục thương lượng giữa người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường do cơ quan có trách nhiệm bồi thường ban hành thì trong thời hạn Luật định, người đó mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự (Các điều từ 15 đến 21 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009).
6. Thời hiệu yêu cầu bồi thường
Với quan điểm coi quan hệ bồi thường nhà nước là một quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đa số pháp luật quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường tương tự thời hiệu yêu cầu bồi thường trong dân luật. Tuy nhiên, cũng có một số nước có quy định đặc thù hơn so với quy định của luật dân sự. Luật Bồi thường nhà nước của Thụy Sỹ quy định thời hiệu yêu cầu Liên bang bồi thường tương tự như thời hiệu quy định tại Điều 60 Bộ luật trái vụ nhưng Luật LRCF quy định thêm một thời hạn là 06 tháng [1, T22] và trách nhiệm của liên bang chấm dứt nếu người bị thiệt hại không có yêu cầu bồi thường trong thời hạn 01 năm kể từ ngày người đó biết về thiệt hại, và trong mọi trường hợp, trong thời hạn 10 năm kể từ ngày công chức thực hiện hành vi gây thiệt hại .... nếu Liên bang từ chối yêu cầu hoặc không trả lời trong thời hạn 03 tháng, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện trong thời hạn 06 tháng, nếu không khởi kiện thì mất quyền được bồi thường [4, T188]. Luật Bồi thường nhà nước năm 1994 của Trung Quốc thì quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là 02 năm, kể từ khi việc thực thi nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan, nhân viên của cơ quan nhà nước gây ra thiệt hại được xác định là trái quy định của pháp luật (Điều 32 Luật Bồi thường nhà nước của Trung Quốc). Luật Bồi thường nhà nước năm 1947 của Nhật Bản thì quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường được thực hiện như quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự (Điều 4). Đối với pháp luật của CHLB Đức thì tùy theo loại trách nhiệm của Nhà nước (trách nhiệm theo hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm công vụ hoặc trách nhiệm do quốc hữu hóa...) thì thời hiệu sẽ được xác định theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Đối với trách nhiệm bồi thường nhà nước tại Việt Nam, do quy định đặc thù về căn cứ yêu cầu bồi thường là phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật (Điều 4 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước), do đó, thời hiệu yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN của Việt Nam quy định thời hiệu là 02 năm kể từ ngày có văn bản đó (Điều 5 Luật TNBTCNN).
7. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường
Cơ quan có trách nhiệm bồi thường được quy định tương đối khác nhau trong pháp luật của từng nước, tuy nhiên, về cơ bản thì có hai mô hình chính là mô hình tập trung - trách nhiệm bồi thường do từng cơ quan cụ thể thực hiện và mô hình phân tán - trách nhiệm bồi thường do một cơ quan chuyên trách thực hiện [5, T9].
Tại Hàn Quốc, mô hình cơ quan có trách nhiệm bồi thường được tổ chức theo mô hình tập trung, theo đó, ngoài Tòa án thì có cơ quan hành chính được giao thẩm quyền giải quyết bồi thường (giải quyết bồi thường ngoài tố tụng) - đó là Hội đồng bồi thường nhà nước (Trung ương) và Hội đồng bồi thường nhà nước khu vực (ở các địa phương) [10, T151]. Theo thẩm quyền, Hội đồng bồi thường nhà nước cấp trung ương xem xét yêu cầu đòi bồi thường đối với Nhà nước hoặc chính quyền trung ương; Hội đồng bồi thường nhà nước cấp vùng xem xét yêu cầu đòi bồi thường đối với cơ quan ở địa phương. Ngoài ra, còn có một Hội đồng đặc biệt được thành lập ở Bộ Quốc phòng để xem xét đơn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do các quân nhân hoặc công chức quốc phòng gây ra cho người khác [10, T151]. Tại Hoa Kỳ, pháp luật tuy không giao cho một cơ quan duy nhất đại diện Nhà nước thực hiện việc giải quyết bồi thường, tuy nhiên hoạt động này được tổ chức chặt chẽ, trong đó đề cao vai trò của Bộ Tư pháp, cụ thể theo quy định của  FTCA như sau: Tổng chưởng lý (thực hiện qua cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp) có trách nhiệm là đầu mối phối hợp với các cơ quan khác trong chính phủ liªn bang thực hiện việc giải quyết bồi thường và có thể làm trọng tài, thực hiện việc dàn sếp hoặc giải quyết bất cứ yêu cầu bồi thường nào theo quy định của luật này. Cơ quan liên bang quản lý cán bộ, nhân viên gây ra thiệt hại có trách nhiệm giải quyết bồi thường. Thông thường, đơn yêu cầu được gửi tới văn phòng cấp Quận của cơ quan liªn bang có trách nhiệm bồi thường, tuy nhiên thẩm quyền giải quyết hạn chế như sau: Tiếp nhận và thực hiện điều tra hoặc uỷ quyền điều tra giải quyết bồi thường cho cơ quan tư vấn cấp quận đối với yêu cầu bồi thường từ 5.000 USD trở xuống hoặc tiếp nhận và thực hiện điều tra hoặc uỷ quyền điều tra giải quyết bồi thường và phải tham vấn ý Văn phòng tư vấn cấp quận đối với yêu cầu bồi thường trên 5.000 USD; trường hợp giải quyết bồi thường từ 25.000 USD trở lên thì phải tham vấn ý kiến của Bộ Tư pháp trước khi quyết định bồi thường. Sau đó, việc ấn định bồi thường cần có sự xác nhận của Bộ Tư pháp [13, T10]. Tương tự như mô hình của Hoa Kỳ, pháp luật Nhật Bản cũng quy định trách nhiệm này cho Bộ Tư pháp, theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Luật Bồi thường nhà nước Nhật Bản thì bên có nghĩa vụ bồi thường là Nhà nước chứ không phải là từng cơ quan nhà nước cụ thể. Như vậy để có thể được bồi thường thì bên bị thiệt hại phải khởi kiện Nhà nước với tư cách là một bên gây thiệt hại chứ không phải khởi kiện công chức với tư cách cá nhân [7, T126]. Cơ quan đại diện cho Nhà nước tham gia tố tụng tại Tòa án là Bộ Tư pháp Nhật Bản [7, T127].
Ngược lại với các quốc gia trên, pháp luật của Trung Quốc lại quy định theo mô hình phân tán, cơ quan nhà nước và nhân viên của cơ quan nhà nước nào gây ra tổn hại cho cá nhân, pháp nhân hay tổ chức khác thì cơ quan nhà nước đó có trách nhiệm bồi thường cho đối tượng bị tổn hại [9, T141].
Luật TNBTCNN của Việt Nam thì có quy định khác hơn so với các quốc gia nêu trên, theo đó, trách nhiệm bồi thường được xác định là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tuy nhiên, trong từng vụ việc thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường sẽ là cơ quan giải quyết bồi thường (qua thương lượng) và sau này là Tòa án (nếu người bị thiệt hại khởi kiện tiếp tục để yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.
8. Phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước (các trường hợp được bồi thường)
Nhìn chung, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước được xác định rất khác nhau tại mỗi nước. Có những quốc gia thì không hạn chế phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Nhật Bản), ngược lại, có quốc gia thì hạn chế phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Hoa Kỳ). Về cách thức quy định các trường hợp được bồi thường thì phương thức cũng rất khác nhau, có quốc gia liệt kê cụ thể từng trường hợp được bồi thường (Trung Quốc, Việt Nam…) nhưng cũng có những quốc gia lại làm ngược lại, quy định loại trừ các trường hợp mà Nhà nước không bồi thường - điều này được hiểu là những trường hợp nào mà Nhà nước không loại trừ thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường (Hoa Kỳ). Cũng có quốc gia thì về mặt pháp luật không giới hạn nhưng về mặt án lệ thì lại có sự giới hạn (Canada).
Tại Canada, dưới góc độ luật thực định thì không thấy có sự hạn chế nào về phạm vi bồi thường nhà nước đối với các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, là lập pháp, hành pháp hay tư pháp…Ngoài ra, Điều 2 Luật Bồi thường nhà nước của Canada cũng mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm trong việc nắm giữ, chiếm giữ, sở hữu tài sản hoặc từ hoạt động của các tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sự chiếm giữ của Nhà nước…Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tổ chức, cá nhân bị thiệt hại có thể kiện đòi Nhà nước bồi thường thiệt hại trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình. Như đã đề cập, việc xác định trách nhiệm của Nhà nước được thiết lập như một loại trách nhiệm ngoài hợp đồng, tức là theo Luật tư. Theo án lệ, nguyên tắc của Luật công đã dành cho cơ quan công quyền miễn trừ khỏi yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể. Theo đó, một số quyết định của cơ quan công quyền sẽ không là đối tượng khởi kiện theo Luật tư: Quyết định về lập pháp, xét xử và các quyết định có tính chất như pháp luật; Quyết định mang tính chính sách (trái với các loại quyết định điều hành cụ thể); Quyết định khởi tố,truy tố. Như vậy, có thể thấy, việc bồi thường ngoài hợp đồng của Nhà nước được miễn trừ trong hai lĩnh vực lập pháp và tư pháp…Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa, trường hợp bị tổn thất, thiệt hại do hậu quả của các quyết định trong lĩnh vực lập pháp và tư pháp thì không được đền bù. Tổn thất, thiệt hại gây ra trong các lĩnh vực này thì không phải là đối tượng bị khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật này, nhưng vẫn có thể được đền bù theo cơ chế khác nhau: cơ chế đền bù hình sự, cơ chế đền bù cho nạn nhân tội phạm tại các bang [2, T170,171]. Tại CHLB Đức, phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước được xác định bao gồm hai lĩnh vực là hành pháp và tư pháp, không bao gồm lập pháp [11, T161]. Tại Hàn Quốc thì tuy không quy định phạm vi bồi thường nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, hành pháp hay lập pháp, nhưng sau khi nghiên cứu nội dung của Luật thì có thể khẳng định rằng, Luật Bồi thường nhà nước của nước này quy định, Nhà nước phải bồi thường trong cả ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp [10, T148]. Ngoài ra, phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước tại Hàn Quốc còn được xác định cả đối với những thiệt hại do tài sản công của Nhà nước gây ra (Điều 5) [10, T150]. Tuy nhiên, trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước thì Luật của Hàn Quốc quy định chỉ áp dụng đối với các hoạt động thuộc “chức năng công được ủy quyền và không ủy quyền” mà không được áp dụng đối với chức năng kinh tế tư nhân (mua sắm chính phủ) [10, T150]. Luật Khiếu kiện bồi thường liên bang của Hoa Kỳ đã phủ quyết việc áp dụng nguyªn t¾c miễn trừ trách nhiệm quốc gia vào năm 1946 về bồi thường thiệt hại trong hoạt động hành pháp; tuy nhiên, đối với hoạt động lập pháp và tư pháp thì chưa hề có sự phủ quyết áp dụngnguyªn t¾c miễn trừ trách nhiệm quốc gia [13, T5]. Như vậy, điều này được hiểu là Hoa Kỳ chỉ bồi thường đối với lĩnh vực hành pháp. Tương tự như pháp luật Hàn Quốc, Điều 1 Luật Bồi thường nhà nước 1947 của Nhật Bản chỉ quy định về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước; trong mọi trường hợp khi có đủ điều kiện trên thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước. Mặc dù điều luật này không quy định rõ là Luật Bồi thường nhà nước sẽ được áp dụng với lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước nhưng theo các chuyên gia pháp lý của Nhật Bản thì việc không quy định được đồng nghĩa với việc Luật không loại trừ bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước [7, T126]. Pháp luật Nhật Bản còn quy định trách nhiệm bồi thường cho cả các hoạt động sự nghiệp công lập như hoạt động của các cơ sở y tế, giáo dục công lập [7, T126]. Tại Indonesia, pháp luật quy định công dân có quyền yêu cầu bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính, trong đó, tranh chấp hành chính được hiểu là một tranh chấp phát sinh trong việc quản lý giữa một cá nhân hoặc một thực thể pháp lý dân sự với một cơ quan hoặc công chức hành chính ở cấp độ quốc gia hay khu vực, do hậu quả của việc ban hành một quyết định hành chính, kể cả các tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật hiện hành [8].Pháp luật của Thụy Sỹ thì quy định trách nhiệm bồi thường nhà nước đối với hầu hết các hoạt động công vụ của Nhà nước; trừ hoạt động của quân đội, các trường hợp mà Thành viên Hội đồng liên bang (Chính phủ) và Thủ tướng liên bang khi có ý kiến, quan điểm phát biểu tại Nghị viện hoặc các cơ quan của Nghị viện và các trường hợp bảo đảm chính trị và cảnh sát vì lợi ích của Liên bang được bảo lưu theo Luật liên bang ngày 26/3/1934 [1, T19,20]. Ngược lại với cách loại trừ các trường hợp Nhà nước không bồi thường, Luật Bồi thường nhà nước của Trung Quốc thì quy định trách nhiệm bồi thường nhà nước theo hướng xác định lĩnh vực được bồi thường và liệt kê cụ thể trường hợp nào là trường hợp nào được bồi thường. Cụ thể, hai lĩnh vực đó là hành chính và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự [16, T24]. Các luật gia Trung Quốc gọi đây là phương pháp hỗn hợp trong việc xác định các hành vi và hoạt động có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước. Phương pháp này gồm hai yếu tố: (1) khẳng định nguyên tắc là người bị thiệt hại do việc thực thi quyền hạn trái pháp luật của Nhà nước gây ra có quyền yêu cầu bồi thường; (2) liệt kê không hạn chế các trường hợp Nhà nước phải chịu trách nhiệm và các trường hợp Nhà nước không phải chịu trách nhiệm. Các luật gia Trung Quốc cho rằng đó là các danh sách mở có thể bao gồm các trường hợp khác không được liệt kê rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ quan hành chính và Tòa án dường như không ủng hộ quan điểm này. Họ thường từ chối bồi thường trong trường hợp hành vi làm phát sinh trách nhiệm không nằm trong danh sách các hành vi và hoạt động được liệt kê rõ ràng trong Luật năm 1994 [16, T26,27].
Luật TNBTCNN của Việt Nam sử dụng cách tương tự như Luật Bồi thường nhà nước của Trung Quốc, đó là quy định rõ lĩnh vực được bồi thường và liệt kê cụ thể từng trường hợp được bồi thường (Các điều 13, 26, 28, 38 và 39 Luật TNBTCNN).
9. Trách nhiệm do lỗi hay không do lỗi
Pháp luật của các nước quy định rất khác nhau về vấn đề này, có nước thì quy định lỗi là yếu tố bắt buộc khi xem xét trách nhiệm bồi thường nhà nước và ngược lại, có nước không quy định lỗi là yếu tố bắt buộc (Thụy Sỹ).
Luật Bồi thường nhà nước của Hàn Quốc quy định lỗi là một trong những điều kiện xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước và sau khi Nhà nước bồi thường cho bên bị thiệt hại thì Nhà nước có thể yêu cầu công chức hoàn trả lại cho Nhà nước, nếu lỗi này là lỗi cố ý; còn lỗi vô ý do bất cẩn thì Nhà nước không yêu cầu công chức này hoàn trả [10, T156]. Đánh giá về Luật Bồi thường nhà nước, các chuyên gia pháp lý của Thụy Sỹ cho rằng, Luật năm 1958 đã cải cách một nội dung cơ bản, xóa bỏ yêu cầu về lỗi của người gây thiệt hại: việc người này hành động có lỗi cố ý hay sơ ý không quan trọng, chỉ cần các điều kiện khác được đáp ứng. Luật quy định chế độ trách nhiệm khách quan và dựa trên quan hệ nhân quả, do đó Liên bang phải chịu trách nhiệm trong trường hợp bất ngờ, trừ trường hợp bất khả kháng [1, T20]. Tuy nhiên, riêng đối với thiệt hại do tổn thất về tinh thần do hành vi xâm phạm thân thể hoặc chết trong những hoàn cảnh đặc biệt và thiệt hại tinh thần do hành vi xâm phạm nhân thân trái pháp luật thì Luật liên bang của Thụy Sỹ đòi hỏi phải có điều kiện lỗi [1, T20]. Ngược lại với Thụy Sỹ, trong pháp luật của Cộng hòa Pháp thì việc xác định lỗi của người gây ra thiệt hại là lỗi công vụ hay lỗi cá nhân rất quan trọng, vì nếu đó là lỗi công vụ, thì việc giải quyết sẽ thuộc phạm vi của chế định bồi thường nhà nước và trình tự tố tụng được áp dụng là tố tụng hành chính. Còn nếu đó là lỗi cá nhân, thì vụ việc sẽ được giải quyết dựa trên quy định của Bộ luật dân sự trước Tòa án tư pháp theo thủ tục tố tụng dân sự [14, T114]. Bên cạnh đó, trong quan niệm của pháp luật Pháp, lỗi cá nhân được gọi là lỗi ngoài công vụ, nghĩa là lỗi đó độc lập với việc thực hiện công vụ. Đồng thời, lỗi của công chức được coi là lỗi cá nhân khi công chức phạm lỗi ngoài thời gian thực hiện công vụ và không liên quan đến việc thực hiện công vụ. Trong thực tiễn, án lệ của Pháp công nhận lỗi cá nhân với nội hàm khá rộng. Lỗi vẫn có thể được coi là độc lập với việc thực hiện công vụ ngay cả trong trường hợp công chức phạm lỗi trong quá trình thực hiện công vụ nhưng phạm lỗi đó vì động cơ cá nhân (như để trả thù hoặc trục lợi). Lỗi độc lập với công vụ cũng có thể là hành vi thái quá, như nói năng thô lỗ, nhục mạ người khác, đe dọa bạo lực, phạm lỗi vì “thiếu cẩn trọng đến mức không thể hình dung được”, hoặc phạm lỗi vì sự thiếu ý thức nghề nghiệp của người vi phạm.v.v…Trong những trường hợp nêu trên, trách nhiệm bồi thường nhà nước không đặt ra, mà là trách nhiệm dân sự giữa cá nhân với cá nhân, vì cá nhân công chức phạm lỗi độc lập với việc thi hành công vụ [14, T115]. Ngoài ra, “lỗi công vụ” là lỗi mà công chức phạm phải trong khi thi hành công vụ hoặc có liên quan đến việc thi hành công vụ. Trường hợp này đặt ra trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, khái niệm này cũng có nội hàm khá rộng. Cũng coi là thuộc trách nhiệm bồi thường nhà nước nếu như công chức phạm lỗi ngoài thời gian thi hành công vụ nhưng đã sử dụng phương tiện do cơ quan nhà nước cung cấp. Lỗi công vụ còn có thể xuất phát từ việc “không hành động” của cơ quan nhà nước hoặc từ sự hoạt động yếu kém của cơ quan nhà nước mặc dù không xác định được cụ thể công chức nào có hành vi vi phạm. Lỗi công vụ cũng có thể là lỗi tập thể của các cơ quan hành chính nhà nước [14, T115].
Lỗi cũng là một trong những vấn đề gây tranh cãi giữa giới nghiên cứu và các cơ quan áp dụng pháp luật trong giải quyết bồi thường ở Việt Nam. Theo lý thuyết thông thường thì một hành vi bị coi là trái pháp luật nếu có yếu tố lỗi trong đó, tuy nhiên, dưới góc độ luật thực định thì Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của Việt Nam không quy định lỗi là một yếu tố bắt buộc trong xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
10. Thủ tục giải quyết bồi thường
Thủ tục giải quyết bồi thường được quy định rất khác nhau trong pháp luật các nước, trong đó, tập trung vào một số vấn đề như loại hình thủ tục tố tụng, có hay không quy định về thủ tục thương lượng bắt buộc giữa người bị thiệt hại và cơ quan giải quyết bồi thường…
Pháp luật của Canada quy định Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết bồi thường và thủ tục giải quyết bồi thường là thủ tục tố tụng dân sự [2, T176]. Đối với thủ tục đền bù khi có sai lầm trong bản án hình sự thì vấn đề đền bù thiệt hại sẽ có thể được đặt ra khi Tòa án tuyên bố vô tội đối với phạm nhân. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Canada chưa có văn bản nào quy định cụ thể về vấn đề đền bù thiệt hại cho người buộc tội oan mà chủ yếu thực hiện thông qua án lệ. Ngoài ra, tại các bang của Canada, việc xem xét đền bù nạn nhân của tội phạm cũng được mỗi bang ban hành Luật riêng để điều chỉnh. Về cơ bản, thủ tục này được thực hiện thông qua một Ủy ban về đền bù nạn nhân của tội phạm. Ủy ban tiếp nhận đơn yêu cầu và sẽ tiến hành họp công khai. Nếu Ủy ban này xét thấy người yêu cầu có khả năng được đền bù thì có thể quyết định đền bù tạm thời với chi phí chữa bệnh, chi phí mai táng và khoản này sẽ không bị thu hồi dù sau đó Ủy ban quyết định người đó không được đền bù. Việc quyết định đền bù không phụ thuộc vào việc có hay không có người thực hiện hành vi dẫn tới gây thương tật hoặc cái chết của nạn nhân có bị truy tố hay buộc tội hay không. Ủy ban sẽ ra quyết định về đền bù trên cơ sở cân nhắc mọi yếu tố kể cả những hành vi của nạn nhân có ảnh hưởng đến việc gây ra thương tật và cái chết của chính họ, sự hợp tác của nạn nhân trong quá trình giải quyết. Việc đền bù theo thủ tục này không cản trở người yêu cầu thực hiện việc khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại do thương tật hay do cái chết gây ra. Tuy nhiên, người yêu cầu phải có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban về việc tiến hành thủ tục khởi kiện dân sự và Ủy ban có thể thu hồi lại khoản đền bù mà người yêu cầu đã được thanh toán theo thủ tục khởi kiện dân sự thông thường [2, T178]. Thủ tục giải quyết bồi thường nhà nước tại Hàn Quốc được  xác định là “thủ tục tố tụng dân sự” [10, T150]. Đồng thời, trước năm 2000, tại Hàn Quốcngười nào muốn nhận bồi thường thì phải làm đơn đến Hội đồng bồi thường cấp vùng có thẩm quyền nơi người đó cư trú, có nhà hoặc nơi phát hiện nguyên nhân để đòi bồi thường, tức là không thể đến thẳng Tòa án để yêu cầu bồi thường. Nhưng từ năm 2000, theo quy định mới, thì người bị thiệt hại có quyền kiện thẳng ra Tòa án mà không cần bắt buộc phải qua Hội đồng bồi thường như trước đây [10, T153]. Pháp luật của Hoa Kỳ thì quy định là trong thời gian 02 năm kể từ ngày phát sinh yêu cầu bồi thường, bên bị thiệt hại phải làm đơn theo mẫu gửi tới cơ quan liên bang có trách nhiệm giải quyết bồi thường. Trong thời gian 06 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu bồi thường, cơ quan liên bang đó thực hiện giải quyết bồi thường. Trong trường hợp cơ quan liên bang xác nhận vụ việc theo quy định tại FTCA và đưa ra quyết định giải quyết bồi thường và người yêu cầu chấp nhận việc giải quyết bồi thường thì coi như việc giải quyết đã kết thúc. Trong trường hợp cơ quan đó không xác nhận giải quyết bồi thường hoặc bên yêu cầu bồi thường không chấp nhận việc giải quyết bồi thường thì, trong thời hạn 06 tháng, bên yêu cầu bồi thường có thể khởi kiện ra Toà án liên bang cấp quận. Hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu bồi thường, cơ quan liên bang có trách nhiệm giải quyết bồi thường không đưa ra bất cứ quyết định nào thì bên yêu cầu bồi thường có thể khởi kiện ra Toà án liên bang cấp quận với thời hiệu không giới hạn. Thủ tục giải quyết bồi thường tại toà án đối với các vụ việc này là thủ tục đặc biệt, không có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn [13, T11]. Ngược lại với các quốc gia vừa nêu, pháp luật Indonesia quy định thủ tục giải quyết bồi thường là thủ tục tố tụng hành chính và khi xét xử vụ án, Tòa án có thể ra một trong các phán quyết sau đây: Bác đơn yêu cầu; công nhận đơn yêu cầu; không chấp nhận đơn yêu cầu; tuyên bố đơn yêu cầu vô hiệu và không có giá trị. Trong trường hợp đơn yêu cầu được chấp nhận, Tòa án có thể ra các lệnh đối với cơ quan hành chính hoặc công chức đã ra quyết định bị khiếu kiện, bao gồm: Hủy quyết định bị khiếu kiện; hủy quyết định bị khiếu kiện và thay thế bằng một quyết định mới; ra một quyết định hành chính mới nếu có yêu cầu [8]. Pháp luật Thụy Sỹ thì quy định việc giải quyết bồi thường trước hết được thực hiện bằng việc gửi yêu cầu tới Bộ Tài chính liên bang, sau đó, tùy từng trường hợp mà người bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường [4, T188]. Tương tự như pháp luật Thụy Sỹ, theo quy định của pháp luật Trung Quốc thì về cơ bản, người bị thiệt hại không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường ngay, mà phải yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường thực hiện việc giải quyết bồi thường trước. Trong trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết hoặc yêu cầu của họ không được giải quyết thì khi đó, người bị thiệt hại mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, cụ thể thì trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và tố tụng hình sự của Luật Trung Quốc thì lại tương đối khác nhau, mà trong đó, thủ tục giải quyết bồi thường do bị thiệt hại trong tố tụng hình sự mang tính hành chính rõ nét [16, T29].
Pháp luật của Cộng hòa Pháp thì cho phép bên bị thiệt hại yêu cầu cơ quan nhà nước bồi thường cho họ, ngay cả khi thiệt hại do lỗi của cá nhân công chức gây ra. Trong trường hợp này, người bị hại có quyền lựa chọn một trong hai khả năng: khởi kiện công chức ra Tòa án tư pháp để yêu cầu bồi thường theo thủ tục dân sự, hoặc khởi kiện cơ quan nhà nước ra trước Tòa án hành chính để yêu cầu bồi thường theo thủ tục bồi thường nhà nước. Điều quan trọng của việc phối hợp trách nhiệm bồi thường, đó là lỗi đó (lỗi cá nhân) xảy ra trong thời gian làm việc tại cơ quan nhà nước hoặc được thực hiện bằng những phương tiện do cơ quan nhà nước cung cấp [14, T116]. Về mặt thủ tục tố tụng, Tòa hành chính là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi hoàn [14, T116]. Về cơ bản, có thể chia làm hai loại yêu cầu, một yêu cầu là chỉ yêu cầu hủy quyết định hành chính, đối với yêu cầu này, người yêu cầu có thể khởi kiện ngay đến Tòa hành chính có thẩm quyền. Đối với yêu cầu có bồi thường, người bị thiệt hại phải khiếu nại đến cơ quan hành chính trước, trong trường hợp cơ quan hành chính không đồng ý thì khi đó họ mới có quyền kiện đến Tòa hành chính - việc khiếu nại đến cơ quan hành chính là một thủ tục bắt buộc [14, T121].
Tại Nhật Bản, do có hai cơ chế là bồi thường thiệt hại và đền bù tổn thất, nên hệ quả của sự tách bạch hai loại trách nhiệm này là sự khác nhau về cơ chế thực hiện trách nhiệm. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì đây là nghĩa vụ bắt buộc của Nhà nước, do vậy, cơ chế thực hiện trách nhiệm là cơ chế dân sự, theo đó, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thông qua thương lượng hoặc khởi yêu cầu Nhà nước bồi thường theo pháp luật tố tụng dân sự. Mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp này sẽ là toàn bộ thiệt hại nếu bên bị thiệt hại chứng minh được những thiệt hại của mình. Trong trách nhiệm đền bù tổn thất, do đây là một chính sách của Nhà nước nhằm bù đắp một phần thiệt hại, vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ việc, khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc sẽ quyết định luôn việc đền bù theo mức cố định đã được pháp luật quy định. Bên cạnh đó, mức đền bù tổn thất sẽ không phải là toàn bộ thiệt hại mà chỉ là mức đã được pháp luật ấn định cho từng trường hợp cụ thể [7, T125].
11. Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ
Trách nhiệm hoàn trả là vấn đề mà pháp luật của tất cả các nước đều có quy định, chỉ khác chăng là trách nhiệm này được quy định như một nghĩa vụ tự thân của người thi hành công vụ hay là một quyền từ phía Nhà nước - chỉ khi nào Nhà nước yêu cầu thì người thi hành công vụ mới phải hoàn trả lại một khoản tiền cho Nhà nước.
Pháp luật của Canada quy định, khi Nhà nước phải bồi thường cho bên thứ ba cho những thiệt hại hoặc vì nguyên nhân khác mà công chức/viên chức nhà nước được xác định có trách nhiệm thì phải bồi hoàn cho Nhà nước một phần hoặc toàn bộ khoản tiền mà Nhà nước đã trả và sẽ được khấu trừ dần vào tiền lương. Việc khấu trừ tiền lương sẽ không được thực hiện một cách tùy tiện nếu chưa được sự chấp nhận của công chức đó phải được sự phê chuẩn của Trưởng cơ quan thuế [2, T175]. Luật Bồi thường nhà nước của Nhật Bản thì quy định người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả nếu họ có lỗi cố ý hoặc vô ý nghiêm trọng [7, T130]. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chế định hoàn trả tại Nhật Bản cho thấy, việc yêu cầu công chức hoàn trả được thực hiện như một quyền từ phía Nhà nước chứ không phải là nghĩa vụ tự thân của công chức nhà nước. Đối với Thụy Sỹ, pháp luật quy định, trong trường hợp Liên bang bồi thường thiệt hại, Liên bang có quyền yêu cầu công chức bồi hoàn nếu công chức gây thiệt hại do cố ý hoặc sơ suất nghiêm trọng, ngay cả sau khi quan hệ công vụ đã chấm dứt [1, T21]. Quyền yêu cầu công chức bồi hoàn phải được thực hiện tại Bộ Tài chính Liên bang (khoản 1 Điều 10 và khoản 2 Điều 20). Tuy nhiên, đối với các hành vi của các đối tượng quy định tại các điểm b, c khoản 1 Điều 3 (thành viên Hội đồng liên bang (Chính phủ), Thủ tướng Liên bang, thành viên và nhân viên các Tòa án liên bang), người bị thiệt hại phải khởi kiện ra Tòa án liên bang (khoản 2 Điều 10, khoản 3 Điều 20 của Luật LRCF và điểm c khoản 1 Điều 120 Luật về Tòa án liên bang) nếu Liên bang từ chối yêu cầu hoặc không trả lời trong thời hạn 03 tháng [1, T21]. Pháp luật của Trung Quốc thì quy định, khi hành vi gây thiệt hại của công chức liên quan đến việc thực thi quyền hạn của Nhà nước (nghĩa là không phải là hành vi hoàn toàn mang tính cá nhân của công chức), Nhà nước luôn có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại trước tiên, trước khi yêu cầu công chức phạm lỗi bồi hoàn. Điều này có nghĩa là công chức gây thiệt hại do cố ý hoặc sơ suất nghiêm trọng, phải chịu trách nhiệm một phần hoặc toàn bộ thiệt hại đã xảy ra. Ngoài trách nhiệm hoàn trả, công chức có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự [16, T28]. Tại Pháp, pháp luật cho phép cơ quan nhà nước có quyền khởi kiện lại công chức phạm lỗi để yêu cầu người này bồi hoàn một phần hoặc toàn bộ số tiền mà cơ quan đó đã bỏ ra để bồi thường cho người bị thiệt hại [14, T116].
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của Việt Nam quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ vừa có điểm tương đồng, vừa có điểm khác biệt với các quốc gia nêu trên. Trước hết, pháp luật của Việt Nam quy định, trách nhiệm hoàn trả là một nghĩa vụ tự thân và người thi hành công vụ chỉ phải hoàn trả nếu có lỗi (vô ý hoặc cố ý). Riêng trong lĩnh vực tố tụng hình sự, người thi hành công vụ chỉ phải hoàn trả nếu có lỗi cố ý. Ngoài ra, mức hoàn trả cũng được pháp luật quy định mức trần (mức cao nhất) đối với 03 trường hợp lỗi: lỗi vô ý, lỗi cố ý nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và lỗi cố ý và người thi hành công vụ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 22
  • Hôm nay: 1007
  • Tháng hiện tại: 15814
  • Tổng lượt truy cập: 3834310