Báo Công Giáo | Tin tức công giáo | Viettel Kon Tum

Ngũ vị tử núi Ngọc Linh Kon Tum

Đăng lúc: Thứ tư - 06/04/2016 10:13 - Người đăng bài viết: thanhtu

Ngũ vị tử Ngọc Linh

Thứ Bảy, 21/11/2015, 07:33 [GMT+7]
.
Quả tươi Ngũ vị tử Ngọc Linh có thể ngâm rượu làm thuốc bổ rất tốt Ảnh: P.C.T
Quả tươi Ngũ vị tử Ngọc Linh có thể ngâm rượu làm thuốc bổ rất tốt Ảnh: P.C.T

Ngũ vị tử là vị thuốc Đông y, dùng chữa ho lâu ngày, phế hư, ho tức ngực, hen suyễn, khí hư, mỏi mệt, di mộng, hoạt tinh, miệng khô khát, mồ hôi nhiều, hay mất ngủ...

Ngũ vị tử dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Thần Nông Bản thảo kinh, có tên gọi là Ngũ vị tử vì thuốc có đủ 5 vị chua, cay, mặn, ngọt, đắng. Theo Trung dược đại từ điển, Ngũ vị tử là quả chín phơi hay sấy khô của cây Ngũ vị tử bắc (Schisandra chinensis) hoặc của cây Ngũ vị tử Hoa Nam (Schisandra sphenanthera).

Nước ta lâu nay phải nhập khẩu mỗi năm 50 - 70 tấn Ngũ vị tử từ Trung Quốc. Gần đây chúng ta đã phát hiện 1 loài Ngũ vị tử  mọc hoang ở núi Ngọc Linh (giữa 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam) đã mở ra hy vọng có thể phát triển thay thế vị thuốc nhập khẩu.

Theo điều tra của các nhà thực vật học thì đồng bào dân tộc ở Trà My (Quảng Nam) và đồng bào Tây Nguyên, dùng hạt cây này có tác dụng tăng lực, tăng sức chống chịu khi đi núi rừng và chữa trị bệnh gan rất tốt. Nước sắc hạt cây có thể làm giảm men gan đến 55% trong trường hợp bị bệnh.

Theo nghiên cứu của TS. Nguyễn Bá Hoạt và một số tác giả ở Viện Dược liệu, Ngũ vị tử Ngọc Linh so với Ngũ vị tử bắc (S.chinensis) và vị thuốc Ngũ vị tử thương phẩm mua tại TP. Hồ Chí Minh và Bắc Kinh về thành phần hoạt chất khá tương đồng. Nghiên cứu đánh giá tác dụng dược lý cho thấy Ngũ vị tử Ngọc Linh có độc tính cấp đường uống thấp với LD50 là 13,4g cao chiết/kg thể trọng (tương đương với 140g dược liệu/kg thể trọng). Cao Ngũ vị Ngọc Linh khi sử dụng một liều duy nhất có tác dụng kéo dài giấc ngủ gây bởi pentobarbital, thể hiện tác động an thần (liều càng cao thì tác dụng gây an thần càng rõ), tác động phục hồi chức năng giải độc của gan, chữa bệnh và dự phòng bảo vệ tế bào gan.

Đã có một số luận văn nghiên cứu thành phần hóa học và thăm dò hoạt tính sinh học của Ngũ vị tử Ngọc Linh tại Đại học Đà Nẵng (Nguyễn Bá Khoa, 2011), Đại học Thái Nguyên (Đỗ Tiến Lâm, 2012). Kết quả thử hoạt tính chống ung thư cho thấy hoạt chất từ cặn dịch chiết Ngũ vị tử Ngọc Linh có hoạt tính mạnh đối với cả 4 dòng tế bào ung thư biểu mô, ung thư gan, ung thư phổi và ung thư vú.

Ngũ vị tử là một cây thuốc quý có nhiều tác dụng trong y học, được nhiều nước nghiên cứu sử dụng cả trong Đông y và Tây y. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy:

- Đối với trung khu thần kinh: Thuốc có tác dụng làm cân bằng 2 quá trình hưng phấn và ức chế của vỏ não, đối với các cấp thần kinh trung ương đều có tác dụng hưng phấn. Thuốc có tác dụng nâng cao trí lực, hiệu suất và chất lượng công tác, schisandrin trong quả Ngũ vị tử có tác dụng giảm đau, an thần và giải nhiệt.

- Nước sắc Ngũ vị tử có tác dụng hưng phấn hô hấp rõ, đồng thời có tác dụng hạ áp, hóa đàm giảm ho.

- Thuốc có giá trị như Nhân sâm có chất gây thích nghi (adaptogen), có tác dụng điều hòa các chức năng khác nhau của cơ thể, tăng cường khả năng phòng vệ của cơ thể đối với các kích thích không đặc hiệu.

- Thuốc có tác dụng hạ áp nhưng lúc suy tuần hoàn thuốc lại có tác dụng nâng áp, như vậy là có tác dụng điều tiết huyết áp. Trên thực nghiệm cũng chứng minh thuốc có tác dụng giãn mạch và cường tim.

- Thuốc sắc Ngũ vị tử có tác dụng tăng thị lực và thị trường của những người bình thường tình nguyện và ở những người đau mắt. Thuốc có tác dụng tăng xúc giác.

Đơn thuốc:

1. Chữa thận hư, đái trắng đục, đau eo lưng, cứng xương sống: Dùng Ngũ vị tử 1 lạng, sấy khô, tán nhỏ làm viên bằng hạt đậu xanh, uống mỗi lần 30 viên, với giấm (Nam dược thần hiệu).

2. Chữa liệt dương: Dùng Ngũ vị tử 100g, sấy khô, tán nhỏ, uống mỗi lần 4g, ngày uống 3 lần (Nam dược thần hiệu).

3. Chữa ho suyễn: Ngũ vị tử và phèn phi bằng nhau, tán bột, dùng mỗi lần 3 đồng cân (12g), cho vào giữa phổi lợn luộc mà ăn hằng ngày thì tiêu đờm bớt ho hen (Nam dược thần hiệu).

4. Chữa viêm gan mạn tính dùng Ngũ vị tử sao khô tán mịn, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần. Đợt dùng 30 ngày, uống với nước sôi hoặc nước cơm, thêm chút muối đường.

Xin lưu ý, theo một số tài liệu đã công bố, Ngũ vị tử Ngọc Linh có tên khoa học Schisandra sphenanthera. Tuy nhiên, mới đây chúng tôi đã nhờ người thu mẫu cây, lá và quả chín của loài Ngũ vị tử này gửi cho một nhà thực vật học có uy tín hàng đầu về định danh cây thuốc ở TP. Hồ Chí Minh, và đã nhận được kết quả cho biết đó là loài Schisandra arisanensis, là loài Ngũ vị tử Đài Loan đã được nhà thực vật Hayata định danh lần đầu từ năm 1915. Rất mong các nhà khoa học có dịp ngồi lại xác định chính xác và thống nhất tên khoa học cũng như tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn loài Ngũ vị tử này để ứng dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Nguồn: Báo Đà Nẵng

Đề tài: Nghiên cứu phát triển ngũ vị tử ngọc linh và tác dụng bảo vệ gan

 

Cơ quan thực hiện đề tài: Viện Y dược

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Bá Hoạt

Thời gian thực hiện: 6/2003 – 6/2005

 I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngũ vị tử (Fructus schisandrae) là vị thuốc y học cổ truyền phương đông, dùng chữa ho lâu ngày, phế hư, ho tức ngực, hen suyễn, mỏi mệt, di tinh, hoạt tinh, mộng tinh, tân dịch thương tổn, đoản khí, mạch hư, nội nhiệt tiêu khát, mất ngủ... Việt Nam lâu nay phải nhập khẩu 50 - 70 tấn/năm từ Trung Quốc. Việc phát hiện 1 loài ngũ vị tử  mọc hoang ở núi Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đã mở ra hy vọng có thể thay thế vị thuốc nhập khẩu. Được sự quan tâm của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu phát triển Ngũ vị tử Ngọc Linh và tác dụng bảo vệ gan”.

II. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Xác minh giá trị làm thuốc của ngũ vị tử Ngọc Linh, xây dựng cơ sở khoa học cho quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu Ngũ vị tử.

III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Nội dung

- Nghiên cứu về hình thái;

- Khảo sát hiệu suất chiết qua hai dung môi ete và MeOH;

- Phân tích sơ bộ thành phần hóa học;

- Xây dựng tiêu chuẩn dược liệu;

- Thử nghiệm độc tính cấp diễn;

- Thử nghiệm tác dụng trên hệ thần kinh trung ương;

- Mô hình gây viêm gan cấp bằng tetraclorua carbon;

- Mô hình tổn thương gan thực nghiệm bằng ethanol;

- Phân bố, trữ lượng, kỹ thuật nhân giống.

2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp khảo sát thành phần hóa học; nghiên cứu sinh học, thành phần hóa học; phương pháp nghiên cứu dược lý; Phương pháp sắc ký lớp mỏng.

IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Nghiên cứu xác minh giá trị làm thuốc của Ngũ vị tử Ngọc Linh

Thực vật học (Xác định danh pháp): Dựa vào khóa phân loại họ Schisandraceae trong tài liệu: R.M.K. Saunders, Schisandraceae, Species plantarum; Flora of the World, part 4:1-62(2001), đối chiếu với thực vật chí Trung Quốc, xác định  tên loài Ngũ vị tử Ngọc linh là: Schisandra sphenanthera Rehder & E.H.Wilson. họ Schisandraceae.

1.1. So sánh hình thái dược liệu: Chúng tôi tiến hành so sách các chỉ tiêu mô tả của nguyên liệu thô, kết quả cho thấy: về mùi vị của Ngũ vị tử Ngọc Linh (NVT1) đều có đủ 5 vị và trội hơn về vị cay; màu sắc quả gần giống nhau - màu nâu đen; kích thước NVT1 từ 5-8mm, các loại khác từ 4-7mm; đều chứa từ 1-2 hạt, hình quả thận; hạt NVT1 có góc cạnh, màu vàng nâu; kích thước hạt NVT1 nhỏ hơn ngũ vị tử bắc (NVT3 đường kính 4mm) và đồng đều với các loại còn lại. Đặt biệt NVT1 khi nghiền thô thành bột có mùi thơm nhất trong các loại đem nghiên cứu.

1.2. Khảo sát hóa học

- Hiệu suất chiết qua các dung môi: Lượng cắn tan trong dung môi kém phân cực (ete) có NVT1 (5.3%) và NVT3 (5.9%) tương đương nhau, trội hơn là NVT2 và kém hơn là NVT4. Lượng cắn tan trong dung môi phân cực (MeOH) có NVT1 (3.35%) và NVT3 (3.14%) tương đương nhau, nhưng chiếm lượng nhiều hơn là NVT4 và ít hơn là NVT2.

- Phân tích sơ bộ thành phần hóa học: Chất béo, anthraquinon, tinh dầu, carotenoid, phytosterol, acid hữu cơ, flavonoid, antraglycosid, polyphenol, đường khử, tanin.

- Kiểm tra trên sắc ký lớp mỏng: Ở phân đoạn ete, NVT1 thể hiện các vết chất tương đồng với NVT3 về Rf và màu sắc với mức độ đậm nhạt khác nhau. Ở phân đoạn MeOH, NVT1 cũng thể hiện các vết chất tương ứng về Rf và màu sắc với NVT3, NVT2 và NVT4. Tuy nhiên sắc đồ không phong phú về vết chất như trong phân đoạn ete.

- Đánh giá so sánh giữa Ngũ vị tử Ngọc Linh và Ngũ vị tử bắc: Khi soi UV: 254nm cả NVT1 và NVT3  cho thấy sắc đồ tương đồng nhau, nhưng có một vài vết chất chỉ phát hiện ở NVT3 mà không phát hiện ở NVT1. Khi soi UV: 365nm thì có một vài dị biệt như ở NVT1 có nhiều vết chất phát huỳnh quang đỏ nhiều hơn và đậm hơn ở NVT3. Phun thuốc thử Vanillin – H2SO4 cho thấy sắc đồ tương đồng nhưng cũng có một vài vết dị biệt.

1.3. Chế biến sau thu hoạch và xây dựng tiêu chuẩn dược liệu

* Chế biến sau thu hoạch: Quả được thu hái về rửa sạch, làm ráo nước, đem sấy (trong 48 giờ ở nhiệt độ 600C) hoặc phơi nắng (khoảng 36 giờ) đạt đến độ ẩm từ 9 – 11% và đem đi bảo quản ở nơi khô ráo.

* Tiêu chuẩn Ngũ vị tử Ngọc linh:

- Sau khi sơ chế, quả có màu nâu đen hoặc đen, vỏ hạt có vân dọc sần sùi, màu vàng nâu, mỏng giòn, vị: đắng, cay, chua, ngọt, mặn. Vỏ quả gồm 3 lớp. Bột màu nâu đậm, tế bào đá của vỏ hạt có hình tròn và đa giác, vách dày, có các vân ngang, bên trong có nhiều lỗ nhỏ.

- Khi sử dụng phương pháp sắc ký lớp mỏng, cho kết quả như sau: UV245nm: có ít nhất 5 vết phát quang tập trung với giá trị Rf trong khoảng  0,22 – 0,69; UV365nm: có ít nhất 2 vết phát quang đỏ, trong đó vết chính có giá trị Rf khoảng 0,75; phun thuốc thử Vanillin-H2SO4, sấy ở 1100C trong 5 phút có ít nhất 6 vết trong đó có một vết đậm có giá trị Rf khoảng 0,44.

- Tiêu chuẩn khác: tạp chất không quá 1%; tỷ lệ vụn nát không quá 5%; độ ẩm: không quá 13%; bảo quản: Để nơi khô ráo, tránh mốc, mọt...

1.4. Nghiên cứu đánh giá tác dụng dược lý

Có độc tính cấp đường uống thấp với LD50 là 13,4g cao chiết/kg thể trọng (tương đương với  140g dược liệu/ kg thể trọng). Cao Ngũ vị Ngọc Linh khi sử dụng một liều duy nhất có tác dụng kéo dài giấc ngủ gây bỡi pentobarbital, thể hiện tác động an thần (liều càng cao thì tác dụng gây an thần càng rõ), tác động phục hồi chức năng giải độc của gan, chữa bệnh và dự phòng bảo vệ tế bào gan.

2. Nghiên cứu phân bố, trữ lượng và kỹ thuật nhân giống

- Về phân bố tự nhiên và sơ bộ đánh giá trữ lượng: Ngũ Vị Tử Ngọc Linh phân bố ở độ cao khoảng từ 1.100m đến 1.200m trở lên. Xã Ngọc Lây, Tê Xăng, Măng Ri của huyện Đăk Tô - Kon Tum là trung tâm phân bố của Ngũ vị tử, trữ lượng khoảng 40-50 tấn quả tươi/năm (4,5–5,0 tấn khô/năm).

- Phương pháp nhân giống: có 02 phương pháp nhân giống ngũ vị tử: nhân giống vô tính từ hom thân; nhân giống hữu tính từ quả và hạt, tuy nhiên phương pháp này thời gian nảy mầm rất dài từ 345-365 ngày.

V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

- Lần đầu tiên phát hiện loài Ngũ vị tử phân bố ở vĩ độ 15 thuộc vùng núi Ngọc Linh, tên khoa học là Schisandra sphenanthera Rehder  et  Wills. họ  Schisandraceae. Phân bố ở độ cao từ 1.200m trở lên, tập trung nhiều ở những vùng có sinh thái là rừng cây bụi, rừng thứ sinh và rừng thông đã qua khai thác chọn.

- Ngũ vị tử Ngọc Linh với ngũ vị tử bắc (S.chinensis) và vị thuốc ngũ vị tử thương phẩm mua tại TP.Hồ Chí Minh và Bắc Kinh về thành phần hoạt chất khá tương đồng.

- Nghiên cứu dược lý Ngũ vị tử Ngọc linh: Liều độc đường uống của Ngũ vị tử Ngọc Linh là 140gDL/Kg thể trọng; Cao Ngũ vị tử Ngọc Linh có tác dụng kéo dài giấc ngủ gây bỡi pentobarbital, an thần, phục hồi chức năng giải độc của gan theo cơ chế chống gốc tự do.

- Hơn 90% cây con được nhân giống từ hom thân sống sót. Gieo quả tỷ lệ nay mầm đạt từ 25-60%, gieo hạt tỷ lệ nảy mầm đạt từ 20-53%, hạt phơi khô không mọc, thời gian nảy mầm rất lâu từ 345-365 ngày.

- Đã xây dựng vườn giống 1.500 m2 trồng cây giống từ hom thân. Chọn lọc, cải tạo và trồng bổ sung Ngũ vị tử Ngọc Linh trên diện tích 5.000 m2.

2. Kiến nghị

- Đầu tư tiếp cho nghiên cứu thành phần hoạt chất: các hợp chất lignan, schisandrin B, schisandrin c, gomisin A, gomisin B, gomisin C. Quy trình chiết xuất công nghiệp và tiêu chuẩn hóa cao chiết. Về dược lý cần được nghiên cứu bổ sung độc tính bán mãn, tác động chống oxy hóa, tác dụng chống lão hóa, tác dụng cải thiện trí nhớ bảo vệ tổn thương não, tác dụng phục hồi tổn thương gan.

- Đề nghị cho đề tài tiếp tục nghiên cứu tạo vùng nguyên liệu và tạo thuốc mới từ Ngũ vị tử Ngọc Linh./.
Nguồn: skhcn.kontum.gov.vn



Đề tài: Xây dựng mô hình nhân giống, trồng và sơ chế Ngũ vị tử Ngọc Linh (Schisandra sphenanthera Rehd. et Wils. Họ Schisandraceae)

Đơn vị thực hiện: Trung tâm Nghiên cứu Trồng và Chế biến cây thuốc Hà Nội
Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Thị Liên
Thời gian thực hiện: 10/2009 đến tháng 10/2011

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngũ vị tử Ngọc Linh là một loài đặc hữu chỉ mới gặp ở vùng núi Ngọc Linh thuộc hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam. Năm 2004 - 2005 Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum đã đầu tư cho Viện Dược liệu thực hiện thu mẫu định danh, nghiên cứu hoá học và dược lý. Các kết quả thu được so sánh với ngũ vị tử bắc cho thấy có sự tương đồng. Nhân dân địa phương đã sử dụng làm thuốc và ăn quả. Ngũ vị tử là vị thuốc kinh điển đã được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền, nay đang là nguyên liệu cho nhiều mặt hàng công nghiệp, nên sản lượng tiêu thụ hàng năm lớn.
Ngũ vị tử ở Ngọc Linh mới được phát hiện, là cây thuốc lâu năm có khả năng phát triển tạo vùng nguyên liệu dược thay thế nhập khẩu gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái cho vùng núi cao. Các kết quả nghiên cứu về sinh học, về nông học cũng như các kỹ thuật về thu hái hạt giống, gieo ươm hạt giống, kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ngũ vị tử để có một quy trình đầy đủ là cần thiết. Vì vậy, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum đã đầu tư cho Viện Dược Liệu thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình nhân giống, trồng và sơ chế Ngũ vị tử Ngọc Linh (Schisandra sphenanthera Rehd. et Wils. Họ Schisandraceae)” tại Kon Tum.

II. Mục tiêu của đề tài

Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất giống, trồng và sơ chế Ngũ vị tử Ngọc Linh. Tuy nhiên, do trong quá trình tổ chức thực hiện Sở Khoa học và Công nghệ xét thấy Quy trình kỹ thuật sơ chế dược liệu Ngũ vị tử  trên địa bàn tỉnh Kon Tum đang được công ty Thái Hòa ứng dụng sản xuất tạo thành phẩm bán ra thị trường, do đó để tránh nghiên cứu trùng lắp, tiết kiệm kinh phí Sở KH&CN đã có công văn số 133/SKHCN-QLKHCN, ngày 22/6/2012 đề nghị không thực hiện nội dung “nghiên cứu kỹ thuật sơ chế dược liệu ngũ vị tử đạt tiêu chuẩn Dược diển Việt Nam III”. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung còn lại để phục vụ việc xây dựng quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thuốc Ngũ vị tử nhằm phục vụ sản xuất nguyên liệu chế biến.

III. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

1. Nội dung nghiên cứu
Ứng dụng quy trình nhân giống bằng hạt để sản xuất cây giống ở quy mô công nghiệp; Xây dựng vườn ươm giống từ hom thân và từ hạt, xây dựng tiêu chuẩn cây giống ngũ vị tử; Nghiên cứu quy trình trồng cây ngũ vị tử dưới tán rừng đang phục hồi (trồng bán tự nhiên); Nghiên cứu quy trình trồng cây ngũ vị tử có giàn leo; Huấn luyện kỹ thuật sản xuất giống và kỹ thuật trồng cho hộ dân.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bố trí các thí nghiệm nhân giống bằng phương pháp: Hạt giống ngũ vị tử Ngọc Linh sử dụng trong thí nghiệm là chưa qua thời gian ngủ nghỉ; Thu hạt và gieo ngay theo các công thức.
Bố trí thí nghiệm đồng ruộng căn cứ vào Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng; Kỹ thuật trồng và chế biến cây thuốc. Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB), các công thức thí nghiệm lặp lại 3 lần, theo dõi 10 cây tại mỗi lần nhắc lại/ công thức.

IV. Kết quả nghiên cứu

1. Các kết quả về nhân giống

Do có thời gian ngủ nghỉ dài nên hạt giống ngũ vị tử sau khi thu hoạch, nếu đem gieo trồng ở ngoài đất theo phương pháp truyền thống, thì giống sẽ nằm trong đất thời gian từ 6 - 8 tháng, sau đó mới bắt đầu mọc mầm. Thời gian hạt nằm trong đất sẽ chịu tác động của các điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi như hạn hán, mưa, gió... đồng thời bị nhiều tác nhân sinh vật như sâu bệnh, chim, chuột phá hại, dẫn đến làm giảm thấp nghiêm trọng khả năng mọc mầm, sức sống của cây con giống.
Để khắc phục các khó khăn trên, nhóm nghiên cứu đề tài đã tiến hành các thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Ảnh hưởng của xử lý hạt giống bằng nước vôi đến khả năng mọc mầm và tỷ lệ hình thành cây con giống ngũ vị tử:  Hạt ngũ vị tử có thời gian ngủ nghỉ dài từ 225 đến 240 ngày. Khi xử lý hạt bằng tẩm nước vôi (hòa tan vôi sống vào nước theo tỷ lệ 1/100), hạt sẽ cho tỷ lệ mọc mầm và tỷ lệ hình thành cây con cao hơn so với đối chứng (không xử lý hạt) đồng thời hạn chế được các loài vật phá hoại như kiến và chuột ăn mất hạt.

- Ảnh hưởng của thời gian xử lý hạt giống đến khả năng mọc mầm và tỷ lệ hình thành cây con giống ngũ vị tử: Hạt giống ngũ vị tử có lớp vỏ cứng bọc ngoài, sau khi thu hoạch có thể gieo ngay hoặc xử lý bằng cách ngâm hạt trong nước nóng với tỷ lệ ba sôi hai lạnh (nhiệt độ khoảng 50 - 540C) trước khi gieo. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, hạt giống không xử lý nhiệt cho thời gian mọc mầm dài (240 ngày). Khi xử lý bằng cách ngâm hạt trong nước nóng ở các công thức khác nhau cho thời gian mọc mầm giao động từ 221 đến 234 ngày. Các công thức thí nghiệm cũng cho tỷ lệ mọc mầm và tỷ lệ hình thành cây con cao hơn công thức đối chứng.
Từ các kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã xây dựng được 2 quy trình sản xuất giống ngũ vị tử Ngọc Linh: Quy trình kỹ thuật trồng ngũ vị tử Ngọc Linh (Schisandra sphenanthera Rehd. et Wils. Họ Schisandraceae) bán tự nhiên (dưới tán rừng đang phục hồi) và Quy trình kỹ thuật trồng ngũ vị tử Ngọc Linh (Schisandra sphenanthera Rehd. et Wils. Họ Schisandraceae) thâm canh (có giàn leo) .
2. Kết quả xây dựng vườn ươm giống, xây dựng tiêu chuẩn cây
- Đề tài đã kết hợp với Phòng Nông nghiệp huyện Tu Mơ Rông xây dựng được 100m2vườn ươm với 2.000 cây ngũ vị tử gieo từ hạt.
- Nhóm nghiên cứu cũng xây dựng được 2 tiêu chuẩn cây giống (từ hạt và từ hom)  áp dụng cho cây ngũ vị tử Ngọc Linh.

3. Kết quả trồng cây ngũ vị tử dưới tán rừng đang phục hồi
Nhóm nghiên cứu đề tài tiến hành thí nghiệm xây dựng quy trình trồng ngũ vị tử dưới tán rừng phục hồi thay thế cho cây mọc tự nhiên dưới tán rừng với các yêu cầu về cây giống và đất trồng, những kỹ thuật canh tác như thời vụ trồng, mật độ khoảng cách trồng… Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Khi trồng ở thời vụ ngày 5 tháng 4 là thời điểm bắt đầu mùa mưa, cây đạt tỷ lệ sống cao vì thời tiết thuận lợi. Sau khi ngủ đông đến mùa sinh trưởng thứ hai cây trồng ở thời vụ này vẫn đạt tỷ lệ sống trên 70%. Ở thời vụ 2 (cây trồng đầu tháng 5) lúc này bắt đầu mưa nhiều, mưa tập trung nên ảnh hưởng đến cây giống đem trồng, cây bị mưa nhiều thối rễ, giập cây nên tỷ lệ sống chỉ đạt từ 65,25 đến 80,34%. Như vậy, có thể chuẩn bị cây giống từ hai nguồn cây giống là giâm hom hoặc gieo ươm từ hạt đến đầu tháng 4, khi bắt đầu vào mùa mưa tiến hành trồng đại trà để đảm bảo tỷ lệ sống của cây.
Để tận dụng đất trồng, nâng cao hiệu quả của khâu trồng trọt có thể trồng cây ngũ vị tử Ngọc Linh với khoảng cách 3m x 1,5m tương ứng với mật độ 2.220 cây/1ha. Với khoảng cách và mật độ này, cây ngũ vị tử Ngọc Linh sinh trưởng, phát triển tốt.
4. Kết quả trồng ngũ vị tử Ngọc Linh có giàn leo
Cây Ngũ vị tử Ngọc Linh mọc tự nhiên và khu trú, phát triển dưới tán rừng trên núi Ngọc Linh thuộc hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum. Như vậy, để trồng cây ngũ vị tử Ngọc Linh đạt hiệu quả cao, nhất thiết phải trồng dưới tán rừng trong đó chế độ ánh sáng tán xạ từ 45 đến 50% (ứng với ánh sáng trực xạ là từ 50 đến 55%), ổn định trong suốt chu kỳ sinh trưởng của cây.
Trồng ngũ vị tử Ngọc Linh dưới giàn leo là một biện pháp chuyển đổi từ trồng dưới tán rừng tự nhiên mọc trùm lên các bụi cây nhỏ sang trồng dưới giàn leo nhân tạo, song vẫn đảm bảo chế độ ánh sáng phù hợp cho cây ngũ vị tử Ngọc Linh sinh trưởng, phát triển đạt năng suất cao, chất lượng tốt.
Cây ngũ vị tử Ngọc Linh trồng dưới giàn leo sẽ có sự sai khác về biện pháp kỹ thuật. Do đó, đề tài đã tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật cụ thể như: khoảng cách trồng và vật liệu làm giàn, đồng thời bước đầu thăm dò về phân bón loại mùn núi kết hợp với đạm, lân và kali cho cây ngũ vị tử Ngọc Linh ở điều kiện trồng dưới giàn leo.
5. Huấn luyện kỹ thuật sản xuất giống và kỹ thuật trồng cho hộ dân 
Đề tài đã tổ chức 3 lớp tập huấn trong ba ngày (ngày 10; ngày 11 và ngày 12 tháng 1 năm 2012) tại UBND xã Tu Mơ Rông - huyện Tu Mơ Rông - tỉnh Kon Tum, mỗi lớp 50 hộ dân.
V. Kết luận và đề nghị
 
1. Kết luận
Sau khi thu quả, đãi vỏ ngâm hạt giống trong nước vôi để bảo quản hạt giống. Xử lý hạt giống ngũ vị tử bằng nước nóng với tỷ lệ ba sôi hai lạnh (50 - 540C) trước khi gieo và xử lý trong thời gian 10 phút cho tỷ lệ mọc mầm và tỷ lệ hình thành cây con cao nhất.
Để trồng cây ngũ vị tử Ngọc Linh cần phải chọn dưới tán rừng hoặc xây dựng giàn leo để đảm bảo cho cây có chỗ leo ổn định trong suốt chu kỳ sinh trưởng của cây.
Thời vụ thích hợp trồng từ tháng 4 đến tháng 5 khi cây giống đảm bảo tiêu chuẩn xuất vườn và đầu mùa mưa, đây là thời vụ chính. Khoảng cách 3m x 1,5m cây ngũ vị tử Ngọc Linh sinh trưởng thuận lợi ở cả 2 thời vụ, chiều cao cây khá cân đối với độ rộng của tán lá.
Trồng cây ngũ vị tử Ngọc Linh dưới giàn leo ngoài việc bón lót mùn núi cần bổ sung thêm dinh dưỡng dạng N – P – K hàng năm để cây đủ dinh dưỡng đảm bảo cho quá trình sinh trưởng và phát triển.
Cây ngũ vị tử bị một số loại sâu bệnh hại như: sâu xám, khảm lá vius, thối rễ và héo vàng nhưng tỷ lệ thấp. Trồng cây với khoảng cách vừa phải, giúp cho thoát nước nhanh, chăm sóc kịp thời cũng như khi làm cỏ chú ý tránh gây tổn thương cho cây.
2. Đề nghị
Do đề tài thực hiện trong 3 năm nên các kết quả mới chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu sinh trưởng, chưa có các kết quả về năng suất và chất lượng của cây. Đây cũng là vấn đề cần giải quyết nhằm hoàn thiện quy trình trồng, đề nghị UBND tỉnh Kon Tum và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum tiếp tục quan tâm đầu tư  cho cây nghĩ vị tử giai đoạn 3./.
Phòng Thông tin - Thống kê KH&CN tổng hợp
Nguồn: skhcn.kontum.gov.vn

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 27
  • Hôm nay: 1478
  • Tháng hiện tại: 70890
  • Tổng lượt truy cập: 3600884