Báo Công Giáo | Tin tức công giáo | Viettel Kon Tum

Cúc gai: bảo vệ gan

Đăng lúc: Thứ ba - 23/02/2016 09:27 - Người đăng bài viết: thanhtu
Cúc gai: bảo vệ gan

Để giải độc gan từ xưa ở VN đã biết dùng các loại thảo dược như atisô, nghệ, rau má, bồ công anh, nhân trần... Các nhà khoa học trên thế giới đã phát hiện một loại cỏ tên cúc gai (Silybim mariailumMy còn gọi Milk thistle, kế sữa, ké sữa, kế thánh, kế đức mẹ, dùng để điều trị các bệnh gan và túi mật. Cây giống hoa cúc, nhưng tròn ở đầu và thân có nhiều gai nhọn, hoa màu hồng. Hầu hết các bộ phận của cây có thể ăn được nhưng hạt là tốt nhất.


 



Cây cúc gai
 
Ngoài bảo vệ gan và túi mật, cúc gai còn giúp điều hòa insulin, giảm viêm, giảm béo, hỗ trợ phòng ngừa ung thư vú, tuyến tiền liệt, co tử cung.
 
Cúc gai có chứa nhóm bioflavonoid, trong đó có chất Silymarin, silychristin, silydianin và silibinin, trong đó Silymarin được xem là hoạt chất chính. Một số nước đã chiết xuất dược liệu này để điều trị các bệnh về gan. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy Silymarin giúp bảo vệ gan nhờ cơ chế giải được các độc tố như carbon tetrachlorid, acetaminophen và rượu.
 
Cây cúc gai đã được chứng minh hiệu quả trong việc cai nghiện, giải độc tô của rượu, tái tạo mô gan bị hư hỏng và kích thích sản xuất mật. Tác động silibinin là làm giảm viêm và xơ hóa. Kết quả phân tích của 5 thử nghiệm lâm sàng trên 602 bệnh nhân xơ gan cho thấy cây cúc gai có thể làm giảm tỷ lệ tử vong bệnh nhân xơ gan đến 50%.
 
Các tác động của cúc gai trên gan
- Ổn định màng tế bào gan, ngăn cản sự xâm nhập của các chất độc vào bên trong gan.
 
- Tăng tổng họp protein ở tế bào gan do kích thích hoạt động của RNA polymerase, góp phần tăng cường giải độc cho gan.
 
- Thúc đẩy sự phục hồi các tế bào gan đã bị hủy hoại, kích thích sự phát triển của các tế bào gan mơi thay thế các tế bào gan bị tổn thương.
 
- Ức chế sự biến đổi của gan thành các tổ chức xơ, giảm sự hình thành và lắng đọng của các sợi collagen dẫn đến xơ gan.
 
- Tăng khả năng oxy hóa acid béo của gan, ức chế phản ứng viêm, giảm nồng độ men gan, cải thiện các tình trạng gan nhiễm mỡ, viêm gan.
 
- Ngăn cản sự tạo thành cholesterol xấu gây nên những mảng bám vào thành động mạch (nguyên nhân gây xơ vữa động mạch).
 
Với những đặc tính trên, cúc gai cũng là một thảo dược tốt vói những ngưòi béo phì, ăn uống không lành mạnh như tiêu thụ nhiều chất y béo, cholesterol, protid..., những người không có điều kiện luyện tập, người thường xuyên tiếp xúc vói các chất phóng xạ, chất đọc, chất gây ô nhiễm và sử dụng quá nhiều dụng quá nhiều các loại thuốc. Tất cả yếu tố trên đều có thể gây nguy hại cho gan, uống cây cúc gai khô mỗi ngày vói liều lượng 10 - 12 g sẽ giúp gan khỏe mạnh.
 
Các hoạt chất tìm thấy trong cây cúc gai có thể làm tăng khả năng hòa tan mật, tăng lưu lượng và thúc đẩy dòng chảy của mật giúp ngán ngừa hoặc điều trị sỏi mật (mật nếu có dòng chảy tốt thì ít có khả năng hình thành sỏi).
 
Ngoài tác dụng tốt cho gan mật, cúc gai còn chứa Silymarin giúp giảm nguy cơ hình thành ung thư vú, cổ tử cung, buồng trứng, tuyến tiền liệt. Đó là nhờ sự trung hòa nồng độ giữa estrogen và progesteron trong cơ the, giúp cân bằng nội tiết tố. Nó còn ức men reductase aldose - loại enzym gây tích tụ đường trên mắt của bệnh nhân tiểu đường, gây nguy cơ đục thủy tinh thể và mù mắt.
 
Việc thanh lọc gan còn giảm được các bệnh ngoài da như vẩy nến, chàm, lở ngứa, ngăn ngừa nhiễm trùng da. Cúc gai làm giảm lượng cholesterol xấu trong máu nhờ đó bảo vệ tim mạch tốt hơn.
 
Lưu ý sử dụng
Cúc gai sẽ gia tăng hiệu quả nếu kết họp vói các vitamin và khoáng tố vi lượng.
 
Các tác dụng phụ thường gặp nhất là rối loạn dạ dày, bao gồm chán ăn, đầy hoi, tiêu chảy, ợ nóng và khó tiêu. Ít gặp các phản ứng dị ứng gồm sưng, phát ban, nổi mề đay, ngứa và khó thở, lãnh đạm y hoặc mất ngủ.
 
Để tránh tương tác thuốc, không nên dùng chung với thuốc chống loạn thần (Promethazin, Haloperidol, Chlorpromazine), thuốc giải dị ứng (Allegra), thuốc chông đông máu (Plavix, Coumadin), thuốc an thần (Valium)... Không dùng khi bệnh nhân đang điều trị ung thư tuyến tiền liệt, buồng trứng, vú, vì sẽ gây rối loạn nội tiết tố. Không dùng cho phụ nữ đang trong thai kỳ, nam giới suy nhược sinh dục, người có cơ địa dễ bị dị ứng.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 22
  • Hôm nay: 647
  • Tháng hiện tại: 31059
  • Tổng lượt truy cập: 3722659