Báo Công Giáo | Tin tức công giáo | Viettel Kon Tum

Các bài thuốc quý từ Cây dâu tằm

Đăng lúc: Thứ hai - 22/02/2016 06:48 - Người đăng bài viết: thanhtu

Các bài thuốc quý từ Cây dâu tằm

 
Trong quá trình trồng dâu nuôi tằm, các vị lương y ngày xưa đã phát hiện ra cây dâu cho tới 7 vị thuốc quý để chữa bệnh, đặc biệt là lá dâu (tang diệp) - một vị thuốc được sử dụng rất nhiều trong Đông y.
Dâu tằm là loài cây được nhân dân ta nuôi trồng từ lâu đời. Bà con thường trồng một vài cây dâu vừa làm hàng rào vừa làm thuốc. Có người cho rằng, cây dâu có tác dụng kỵ tà. Trong quá trình trồng dâu nuôi tằm, các vị lương y ngày xưa đã phát hiện ra cây dâu cho tới 7 vị thuốc quý để chữa bệnh, đó là cành dâu (tang chi), vỏ rễ dâu (tang bạch bì), quả dâu (tang thầm), tầm gửi cây dâu (tang ký sinh), tổ bọ ngựa trên cây dâu (tang phiêu tiêu), sâu dâu và đặc biệt là lá dâu (tang diệp) - một vị thuốc được sử dụng rất nhiều trong Đông y.
Lá dâu nhuận phế, an thần 1
Lá dâu nhuận phế an thần, tốt cho người bị ho do phế nhiệt, viêm họng, suy nhược thần kinh.

Tang diệp vị ngọt, tính mát vào kinh phế và kinh tâm. Có tác dụng trừ ho, chống cảm cúm, bổ tâm an thần, bổ âm liễm phế, cố biểu, dùng cho những trường hợp phế nhiệt, ho khan, viêm họng, viêm thanh quản, suy nhược thần kinh, đau đầu mất ngủ, tim hồi hộp. Liều dùng 30 - 50g/ngày dược liệu tươi hoặc 15 - 19g/ngày dược liệu khô. Xin giới thiệu một số bài thuốc có sử dụng tang diệp.

Trị ho khan do phế nhiệt: người bệnh ho kéo dài, hơi thở nóng, khô họng, khô niêm mạc, đau rát họng, đờm vàng dính. Dùng một trong các bài:

Bài 1: lá dâu 40g, lá xương sông 20g, mạch môn 16g, cát cánh 16g, mã đề thảo 16g, lá đinh lăng 16g, rau tần dày lá 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: lá dâu 20g, cát căn 16g, lá vông 16g, mơ muối 10g, cam thảo 12g, lá xương sông 20g, rau má 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị đau ngực do thiểu năng mạch vành, hồi hộp khó ngủ, lo âu trằn trọc. Dùng bài: lá dâu 40g, lạc tiên 24g, lá vông 20g, lá đinh lăng 24g. Sắc lấy nước đặc chia 2 lần uống vào buổi tối.

Trị cảm thử, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn, mồ hôi ra nhiều, người mệt lả, nhịp tim nhanh. Dùng bài: lá dâu 40g, hoàng kỳ 16g, mẫu lệ 16g, bạch biển đậu 16g, đương quy 12g, bạch truật 16g, phòng sâm 12g, sinh khương 4g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị viêm phế quản mạn tính: người bệnh ho nặng tiếng, đau ngực, khó thở, rát họng, đờm dính. Dùng bài: lá dâu sao vàng 15g, cát cánh 16g, tía tô 16g, cam thảo 16g, mơ muối 10g, rau tần dày lá 12g, sa sâm 16g, bối mẫu 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị suy nhược thần kinh, đau váng đầu, khó ngủ, trí nhớ giảm. Dùng bài: lá dâu 30g, phục thần 10g, hắc táo nhân 16g, đương quy 16g, hà thủ ô 12g, phòng sâm 16g, khởi tử 16g, đại táo 5 quả. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị rụng tóc, khô tóc. Dùng bài: lá dâu, cỏ mần trầu mỗi thứ 1 nắm cho vào nồi, đổ vừa nước đun sôi để ấm rồi gội đầu. Dùng thường xuyên sẽ có hiệu quả tốt.
 

7 bài thuốc chế từ lá dâu tằm

 
Lá dâu hay còn gọi là tang diệp có tên khoa học là Folium Mori. Theo Đông y, lá dâu không mùi, vị nhạt, ngọt đắng, tính mát vào hai kinh can, phế.
Lá dâu hay còn gọi là tang diệp có tên khoa học là Folium Mori. Theo Đông y, lá dâu không mùi, vị nhạt, ngọt đắng, tính mát vào hai kinh can, phế. Trong Đông y, lá dâu có một phạm vi ứng dụng lâm sàng rộng rãi.
 
Một số thực nghiệm lâm sàng cho thấy ăn lá dâu hằng ngày (canh lá dâu, canh hến lá dâu hoặc xào với trứng) hoặc nước hãm lá dâu có khả năng ổn định huyết áp, nhịp tim, đường huyết, làm giảm đáng kể nguy cơ đột quỵ ở nhóm người tăng huyết áp và biến chứng ở người tiểu đường.

 

Một số bài thuốc thường dùng từ lá dâu:

 

Bài 1: Lá dâu non hoặc bánh tẻ nấu canh hoặc nấu chung với hến, nghêu, cá diếc hoặc hãm nước uống hằng ngày có tác dụng ổn định huyết áp, đường huyết và nhịp tim. Bài thuốc này thích dụng cho các bệnh về phổi, phế quản, âm hư nội nhiệt, tăng huyết áp thể can thận âm hư, cải thiện các triệu trứng hội chứng mãn kinh, mồ hôi trộm…

Bài 2:Lá dâu và mè đen đồng lượng trộn đều (9 lần đồ, 9 lần phơi), thục địa 1kg, liên nhục 200g, tất cả tán nhỏ, trộn với mật ong hoàn viên to bằng hạt ngô, ngày uống 5g, chia làm 2 lần sáng - tối. Giúp da tươi nhuận, mịn màng. Uống lâu dài giúp gân cốt rắn chắc, khí huyết dồi dào, tăng thính lực. Bài thuốc này thích hợp cho những người sạm da, nám má, cơ thể suy nhược, gân cốt suy yếu, thiếu máu, can thận âm hư, ù tai, tăng tuổi thọ…

Bài 3:lá dâu 100g, lá đậu ván 100g, lá sen tươi 100g. Tất cả rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, thêm chút muối ăn, khuấy đều rồi uống. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt giải thử, tán phong nhiệt, thích hợp cho những người say nắng, âm hư nội nhiệt, bốc hỏa…

 

Bài 4:

búp dâu non 1 nắm, giã nhỏ đắp vào chỗ sưng, bên ngoài lấy giấy thấm nước đắp, khi khô lại thay, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, kháng viêm, giảm đau, thác sang sinh cơ. Tác dụng trong viêm cơ, viêm tuyến vú, mụn nhọt, trị vết thương lâu ngày, mụn nhọt không liền miệng… Để nâng cao hiệu quả điều trị có thể dùng lá trầu không nấu với nước muối loãng để rửa vết thương, lá dâu vàng, sấy khô, tán bột mịn, rắc lên miệng nhọt, miệng vết thương.

Bài 5: Lá dâu già sao vàng hạ thổ dùng 12-20g, sắc với 100ml còn 50ml, uống ngày 2 lần. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giáng hỏa, lương huyết, trị thổ huyết, nục huyết (chảy máu cam)…

Bài 6: Lấy 10 lá dâu bánh tẻ to, nấu nước uống. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt an thần, thích dụng cho trẻ nhỏ bị sốt cao, co giật hoặc trẻ ngủ không ngon giấc, đại tiện táo, nước tiểu vàng sẫm…

Bài 7: Lá dâu 16 - 18g sắc, đợi nước còn nóng ấm rửa búi trĩ, trực tràng… và đẩy lên, lấy băng băng lại, nằm nghỉ. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, làm săn chắc cơ, thích dụng cho các chứng trĩ, sa trực tràng, sa dạ con… 

Lá dâu: mát gan, sáng mắt

SKĐS - Lá dâu còn gọi tang diệp, là lá của cây dâu tằm, loại cây được nhân dân ta nuôi trồng từ lâu đời để nuôi tằm.

Lá dâu còn gọi tang diệp, là lá của cây dâu tằm, loại cây được nhân dân ta nuôi trồng từ lâu đời để nuôi tằm.Lá dâu là vị thuốc phổ biến trong y học cổ truyền, vị đắng ngọt, tính hàn; vào phế và can. Có tác dụng phát tán phong nhiệt, thanh can minh mục, thanh phế chỉ khái. Dùng cho các trường hợp cảm mạo phong nhiệt, đau đầu, đau mắt đỏ, viêm khí phế quản, ho khan ít đờm, khát nước khô miệng.

Cách dùng tang diệp làm thuốc:

Tán nhiệt, giải biểu:

Dùng Nước tang cúc: tang diệp 12g, cúc hoa 12g, liên kiều 12g, bạc hà 4g, cam thảo 4g, hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, lô căn 20g. Sắc uống. Dùng cho các chứng cảm mạo phong nhiệt mới phát, miệng khát, rêu lưỡi hơi vàng hoặc ho do phong ôn.

Mát gan, sáng mắt: Chứng phong nhiệt ở kinh can, mắt đỏ sưng đau.

Bài 1: tang diệp 12g, cúc hoa 12g, thảo quyết minh 8g. Sắc uống. Trị viêm màng tiếp hợp, mắt đỏ sưng đau.

Bài 2: tang diệp 63g, mang tiêu 12g. Sắc lá dâu lấy 500ml nước, bỏ bã, hoà tan mang tiêu, rửa mắt khi còn ấm. Trị đau mắt hột, đau mắt, ngứa mắt.

Mát phổi, dịu ho do phong nhiệt, đờm vàng đặc hoặc ho khan không đờm: Dùng Thang tang hạnh: tang diệp 8g, hạnh nhân 12g, bối mẫu 8g, đậu xị 4g, chi tử bì 8g, lê bì 8g, sa sâm 8g. Sắc uống. Trị ho khan không đờm do khí hanh mùa thu, đau đầu, phát sốt, lưỡi đỏ.

Hạ huyết áp: tang diệp 20g, tang chi 20g, sung uý tử 20g, thêm 1.000ml nước, sắc lấy 600ml; ngâm rửa chân 30-40 phút trước khi ngủ.

Món ăn - bài thuốc có tang diệp

Bài 1: Trà tang diệp, cúc hoa, bạc hà, cam thảo: tang diệp 10g, cúc hoa 10g, bạc hà 10g, cam thảo 10g. Cho nước sôi pha hãm uống thay nước trà. Dùng cho các trường hợp cảm mạo phong nhiệt.

Bài 2: Trà tang diệp, cúc hoa, kỷ tử, quyết minh tử: tang diệp 9g, cúc hoa 9g, kỷ tử 9g, quyết minh tử 6g, pha nước sôi uống thay trà. Dùng cho các trường hợp đau đầu hoa mắt chóng mặt.

Bài 3: Tang cúc - đạm trúc ẩm: tang diệp 6g, cúc hoa 6g, đạm trúc diệp 30g, bạch mao căn 30g, bạc hà 4g; hãm với nước sôi thêm chút đường uống thay trà. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, ho khan ít đờm, vã mồ hôi do cảm mạo phong nhiệt, viêm kết mạc mắt cấp tính.

Bài 4: Cháo tang diệp - cúc hoa: tang diệp 10g, cúc hoa 12g, đậu xị 10g, gạo tẻ 60g. Các dược liệu nấu sắc lấy nước, gạo đem nấu cháo, cháo chín cho nước sắc vào nấu tiếp cho sôi đều, cho ăn nóng. Dùng cho các trường hợp đau nhức vùng mắt do viêm kết mạc mắt, đau dây thần kinh V do chấn thương vùng mặt.

Bài 5: Phổi lợn hầm tang diệp, huyền sâm: phổi lợn 250g, tang diệp 15g, huyền sâm 20g. Tang diệp, huyền sâm gói trong vải xô, phổi lợn rửa sạch thái lát. Tất cả hầm kỹ, bỏ túi dược liệu ra, thêm gia vị thích hợp để ăn. Đợt dùng liên tục 5-10 ngày. Dùng cho các trường hợp viêm tắc tuyến lệ gây viêm khô kết mạc mắt.

Liều dùng hằng ngày 6 - 15g dưới dạng nấu, hãm, sắc uống.
Rễ cây dâu - Vị thuốc chống ho, trừ đờm

Vị thuốc từ rễ cây dâu có tên là "tang bạch bì", có công năng thanh phế chỉ khái, kiện tỳ, nhuận táo, được dùng trong các trường hợp ho ra máu, ho do phế nhiệt, viêm phế quản, viêm họng có sốt...

 

Cây dâu.

Hằng năm, cứ đến mùa đông, khi mà cây dâu đã thưa lá, người ta tiến hành "đốn" dâu, tức cắt bỏ các phần thân già để sang xuân cho cây nảy lộc đâm chồi. Với những cây dâu đã nhiều năm, năng suất lá đã giảm thường được đào cả gốc để đâm cành mới. Sau khi đốn dâu, người ta phải tranh thủ chặt ngay lấy rễ và đem rửa sạch đất cát rồi bóc tước lấy vỏ rễ. Nếu để vài ngày, rễ khô lại thì việc bóc vỏ sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tiếp tục cạo lớp bần màu nâu đất bên ngoài để lấy lớp "vỏ lụa" màu trắng bên trong. Cũng vì thế mà vị thuốc có tên là “tang bạch bì” (Cortex Mori radicis), bì là vỏ, còn bạch là trắng.

Chế biến “tang bạch bì”: Lấy tang bạch bì cắt thành từng đoạn 3 - 4cm, tẩm với mật ong, cứ 1.000g tang bạch bì dùng 150g mật ong. Thêm một ít nước sạch vào mật ong, thường tỷ lệ 1:1. Quấy đều rồi đổ vào tang bạch bì, vừa trộn vừa bóp cho mật ngấm đều. Ủ 1 - 4 giờ, sao nhỏ lửa đến khi vị thuốc có màu vàng đậm, sờ không dính tay, có mùi thơm của mật ong là được. Sau khi chế như vậy, tang bạch bì rất dễ bị hút ẩm, chảy nước và dễ mốc. Cần bảo quản nơi thông thoáng và thường xuyên chăm sóc. Tốt nhất nên chế lượng đủ dùng cho từng đợt.

Theo YHCT, vị thuốc ngọt, tính bình, không độc; quy kinh: tâm, phế, tỳ, vị, đại tràng. Công năng thanh phế chỉ khái, kiện tỳ, nhuận táo. Tang bạch bì được dùng trong một số trường hợp sau:

- Trị ho ra máu: Tang bạch bì tán bột, ngày uống 10 - 20g với nước cơm. Uống liền 1 - 2 tuần lễ.

- Trị ho do phế nhiệt, viêm phế quản, khó thở, viêm họng có sốt: tang bạch bì, địa cốt bì, mỗi vị 20g; cam thảo 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 2 - 3 tuần lễ.

- Trị các chứng ho có đờm đặc, khó thở hoặc viêm phổi: tang bạch bì, hoàng liên, hạnh nhân, hoàng cầm, mỗi thứ 12g; kim ngân hoa, ngư tinh thảo, lô căn, đình lịch tử, mỗi vị 20g; liên kiều 16g, ma hoàng 8g, cam thảo 6g, thạch cao 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 2 - 3 tuần lễ.

- Trị ho có phù do thận: tang bạch bì 20g, đậu đỏ 40g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 2 -3 tuần lễ.


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 50
  • Hôm nay: 1712
  • Tháng hiện tại: 35450
  • Tổng lượt truy cập: 3727050